Thế nào là một nền y tế tốt?

Sáng nay tham dự một buổi thảo luận nho nhỏ về “Chăm sóc sức khoẻ ban đầu”, nhớ lại cái biểu đồ thú vị này nên đưa lên chia sẻ cùng mọi người. Hy vọng có thể cung cấp một cái nhìn khác về hệ thống Y tế Việt Nam (vốn thời gian qua chịu không ít điều tiếng).

Image

Đây là biểu đồ Sức khoẻ toàn cầu do nhóm Gapminder của tiến sĩ Hans Rosling (viện Karolinska, Stockholm) xây dựng dựa trên số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Ảnh hơi nhỏ, nếu cần, bạn có thể vào thẳng đường link này để ngắm nghía cho thoải mái.

Biểu đồ trông có vẻ rối rắm nhưng thực ra mọi chuyện rất đơn giản.

Trục hoành thể hiện sức mạnh kinh tế (Money), cụ thể là thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia, tính theo “Sức mua tương đương” (Purchasing Power Parity-PPP). Hiểu nôm na, PPP là một đơn vị “tiền tệ quốc tế” để so sánh sức mua ở các nước. VD: 1 USD ở Việt Nam mua được 5kg gạo, nhưng ở Thuỵ Điển chỉ mua được 0,5kg gạo; nghĩa là một người VN có 1 USD thì giàu gấp 10 lần một người Thuỵ Điển có 1 USD. Do đó, GDP bình quân đầu người của Việt Nam tính theo PPP năm 2001 là gần 2000 USD (mặc dù tại thời điểm đó, GDP của VN chỉ khoảng hơn 200 USD). Nhìn qua là đủ thấy VN thuộc nhóm nghèo, thua Trung Quốc, kém Thái Lan, và nằm mơ cũng không bằng được Mỹ (hơn 30.000 USD theo PPP). Cái sự Việt-Nam-chưa-giàu này thì chả có gì bất ngờ.

Trục tung thể hiện hiệu quả của một nền Y tế (Health). Có nhiều cách đánh giá một hệ thống Y tế là tốt hay chưa tốt; dựa vào tuổi thọ trung bình của người dân, dựa vào tỉ lệ mắc bệnh (như tim mạch, bệnh nhiễm khuẩn, tai nạn giao thông,…) và tử vong hàng năm; hoặc ấu trĩ hơn, dựa vào số ca ghép gan ghép thận thành công, (thậm chí, dựa vào số con dao mổ laze mà quốc gia, địa phương đó có), vv và vv… Ở đây các tác giả sử dụng chỉ số: “số trẻ sống đến 5 tuổi trong số 1000 trẻ đẻ ra sống”. Chỉ số này ở Thuỵ Điển (cái nước nằm cao nhất ấy) là 996. Nghĩa là: cứ 1000 em bé Thuỵ Điển được sinh ra (không tính thai chết lưu, hoặc thai ngạt dẫn đến tử vong ngay sau đẻ) thì chỉ có 4 em chết trước 5 tuổi, trong khi con số này ở Nam Phi là 80 em (có thể do bất cứ nguyên nhân nào, kể cả “tên bay đạn lạc”), và ở Mỹ là khoảng 9 em, Nhật là 5,5 em. Ở VN, số trẻ tử vong dưới 5 tuổi vào khoảng 35/1000 em.

Bởi vì những nguyên nhân gây tử vong dưới 5 tuổi chủ yếu là: nhiễm trùng (viêm phổi, viêm phế quản, sởi,… ), suy dinh dưỡng, tiêu chảy,…; chỉ số này loại bỏ được nhiều yếu tố nhiễu (như tai nạn giao thông chẳng hạn). Do đó, nó phản ánh khá trung thành mức độ phát triển của một nền Y tế. Nó gián tiếp cho thấy người dân có được chăm sóc sức khoẻ tốt hay không (thôi, chuyên gia của WHO đã phát biểu thế thì cứ tặc lưỡi công nhận vậy đi, đỡ phải giải thích dài dòng).

Sẽ rất logic khi suy luận rằng mức độ phát triển của hệ thống Y tế tỉ lệ thuận với mức độ phát triển kinh tế. Mối tương quan này được thể hiện bằng 1 phương trình đường thẳng có dạng y=ax. Những quốc gia nằm quanh đường thẳng (như Trung Quốc, Nhật Bản) được coi là có sự phát triển Y tế tương ứng với sức mạnh kinh tế. Những nước nằm phía dưới đường thẳng (như Mỹ, Nam Phi) thì hệ thống Y tế kém phát triển hơn so với nền kinh tế; và ngược lại.

Cách nhìn này đem lại cho mỗi người Việt Nam chúng ta một niềm tự hào nho nhỏ; khi mặc dù GDP kém xa Trung Quốc hay Thái Lan, nhưng hệ thống Y tế ở Việt Nam lại có phần khá khẩm hơn. Hoặc nếu so sánh với những nước có GDP tương tự (Angola, Honduras, hay Ấn Độ chẳng hạn), thì người Việt Nam rõ ràng là được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn nhiều. Tất nhiên là chẳng ai dại gì “so đọ” với Cuba – kinh tế còn eo hẹp nhưng từ lâu đã được biết đến như một trong nơi có dịch vụ y tế tốt nhất (chẳng phải Maradona hay chú gì trong phim “Die Another Day” đều đến Cuba để chữa bệnh hay sao?). Còn mấy bác Nam Phi thì khỏi nói, buôn kim cương giàu thì giàu thật, nhưng bắn giết suốt ngày, 5 người dân thì có 1 người nhiễm HIV; không thể coi là quốc gia có nền Y tế phát triển được.

Tại sao Hoa Kì lại bị xếp vào nhóm “dịch vụ y tế kém”? Có thể do tỉ lệ thất học vẫn cao, do chế độ chăm sóc sức khoẻ (chủ yếu là bảo hiểm tư nhân, ai không có tiền thì nghỉ khoẻ; khác hẳn Thuỵ Điển, Anh, hay Đức – nơi chính phủ chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ viện phí), vv và vv… Nhưng bàn đến các lý do ở đây thì lại là một vấn đề khác rồi.

Tóm lại, một điều rõ ràng là: nếu Berlusconi mổ tim thì ông ta nên đến Mỹ, nằm trong các bệnh viện xịn nhất, được phẫu thuật bởi những bàn tay khéo léo nhất và những bộ óc ưu tú nhất của nền Y học nhân loại. Nhưng nếu bạn không phải là tỉ phú mà chỉ được sinh ra trong một gia đình bình thường, thì tốt nhất bạn nên là công dân Cuba, Thuỵ Điển, hay … Việt Nam. Vì ở đó, bạn và con cái bạn sẽ được chăm sóc tốt hơn (một cách tương đối) so với thu nhập của bạn. Và dĩ nhiên, bạn càng không nên mơ đến những “thiên đường giàu có” theo kiểu Quatar, Ả Rập Saudi, hay Nam Phi – nơi dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có vẻ hơi tệ (hoặc nói trắng ra là rất tệ) so với mức độ phát triển kinh tế.

Thực ra cái đoạn trào lộng và cường điệu trên mang tính đùa vui là chính. Nói chung sống ở Quatar cũng vẫn hay, an nhàn sung sướng, tiền bạc rủng rỉnh, chăm sóc sức khoẻ yếu yếu một tẹo nhưng vẫn còn tuyệt vời hơn ối nơi khác… Chẳng qua dạo này tớ thấy địa vị của ngành Y nhà mình trong mắt dân tình sao mà thấp. Nhắc đến bệnh viện, đến việc khám chữa bệnh là người ta nhăn mặt, kêu la này nọ. Xem ra nếu có tiền thì họ chả thèm khám bác sĩ Việt Nam, ngay đến khâu vết rách da, chữa cái sổ mũi cũng nhảy vào Việt-Pháp hay bay sang Singapore cả. Mặc dù với mức GDP khiêm tốn của chúng ta, thì dịch vụ chăm sóc y tế như vậy cũng là tạm ổn rồi. Ít nhất thì trong 1000 em bé Việt Nam được sinh ra, cũng có ít hơn 35 em tử vong dưới 5 tuổi; nhờ một mạng lưới tiêm chủng mở rộng phát triển, nhờ chính sách miễn hoàn toàn viện phí cho bệnh nhân dưới 6 tuổi, nhờ kiến thức của mỗi bà mẹ, mỗi người dân về về dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ ngày càng nâng cao,… (chứ không phải vì trong khoảng vài nghìn em bé bị dị dạng đường mật bẩm sinh, có 1,2 em được ghép gan và sống lay lắt nhờ miễn dịch trị liệu suốt đời).

Vài dòng loăng quăng, dành cho dân Y là chủ yếu. Hy vọng những người ngoại đạo cũng thấy “chấp nhận được”. Cám ơn mọi sự góp ý và sửa sai.

Quán cơm Bà Béo

Đợt vừa rồi, vì lý do học thi nội trú, tôi có khoảng hơn một tháng ăn trưa (và nhiều khi ăn tối nữa) ở một quán cơm bụi trong trường, gần khu E3, E4.

Nơi tôi hay ăn được biết đến với một tên gọi hết sức phổ thông và dễ nhớ: “quán Bà Béo” (trên đời này có biết bao nhiêu “quán Bà Béo”, nhưng trong trường Y chỉ có một). Hầu hết những kẻ mắc hội chứng ÔTNT trầm trọng đều chọn ăn ở đây. Chúng tôi suốt ngày chạm mặt nhau trên giảng đường, trong thư viện, trong quán nước, nên cũng chẳng ngạc nhiên khi đến giờ ăn trưa lại ngồi chung một bàn, hoặc trò chuyện với từ bàn này qua bàn khác. Cái viễn cảnh khoác áo blouse trắng (thường là phanh ngực “cho oai”) ra căng-tin bệnh viện, vừa ăn vừa thảo luận về những ca bệnh khó xem ra có vẻ khá hấp dẫn và “pro”. Nhưng trước đó, cần phải trải qua những ngày ăn trưa trong cái quán chật chội này, với các chủ đề kém thi vị hơn rất nhiều như: “Học Giải phẫu dài và khó quá!”, “Phần biến chứng của nhồi máu cơ tim có phải nêu mục X, Y, Z không nhỉ?”, “Nào, tranh thủ vừa ăn vừa ôn lại ‘Chỉ định và chống chỉ định của thuốc tránh thai’ ”.

Thực ra, trường Y có truyền thống “ăn cơm theo khoá học”. Những quán ăn khu E4 vốn dành cho dân sau đại học. Còn mấy quán sát kí túc E2 là của hội sinh viên Y2, Y3. Mấy nơi này hay có trò đun nước sôi đặt phía dưới đĩa thức ăn, nhìn ngoài bốc hơi nghi ngút, gọi ăn mới thấy lạnh ngắc ngư. Dù sao vẫn khá hơn nhà ăn sinh viên – căngtin chính thức của trường – nơi thức ăn vừa nguội vừa đắt. Chỗ đấy là dành riêng cho mấy cô chú “Y muỗi” lơ ngơ mới nhập học.

Có thể đồ ăn ở quán Bà Béo nóng hơn, ngon hơn; hoặc đơn giản chỉ do thói quen, mà tụi tôi hầu như không mò vào các quán khác. Qui trình lấy cơm ở đây khá nhanh gọn. Chỉ cần cười chào bà Béo một câu, chỉ trỏ vài món ăn, bê lấy bát canh, và tất nhiên – giả tiền. Dân tình thường gọi khá nhiều thịt, cá, trứng; có lẽ do chưa quen đọc vẹt mấy guideline của WHO về phòng và điều trị bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, suy thận… Lũ chúng tôi thì khác, nện vào rất nhiều rau củ quả (nhất là đậu cô-ve), và luôn cố gắng tuân thủ đúng ô vuông dinh dưỡng của cuốn “Bài giảng Nhi khoa”.

Đó là những ngày dài và căng thẳng, khi thời gian biểu được sắp xếp chi li đến từng … 15 phút. Giờ ăn trưa bỗng trở thành khoảng thời gian thư giãn hiếm hoi không bị đè nặng “mặc cảm tội lỗi”. Nghĩa là cậu Huy kủng bạn tôi có thể thoải mái kể chuyện mấy em Y bé quen trên giảng đường (Luna chẳng hạn), Minh béo có thể nói về em Chai-kô, người-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy. Còn tôi thừa thời gian để mỗi hôm thủng thẳng vài câu “Kiều” (chắc là rất được hâm mộ) “Ba năm trong cõi Sản khoa/ Những điều trông thấy mà kinh đến già/ Rằng ngày mùng 8 tháng 3/ Thuý Kiều đi khám Sản khoa lần đầu/ Lý do bụng dưới quặn đau/ Mà da niêm mạc có màu xanh xao…”. Mấy ông bạn khoái chí, hôm nào cũng lẩm nhẩm ngâm nga, chăm hơn học thi. Mà nhớ thêm 50 câu Kiều (lại là những câu hay) thì có hại gì, chí ít học bài “Chảy máu Sản khoa” cũng đỡ nhọc nhằn hơn một chút.

Tôi nhớ Điền “thăng”, ôn thi nội trú Chẩn đoán hình ảnh, có giao ước là mỗi hôm đi ăn cùng nhau thì tôi phải đọc cho cậu ta một “câu tủ” về chuyên ngành Ngoại-Sản. Tôi học Nội, chẳng biết đề cương ôn Ngoại có những mục nào, nhưng cứ phán bừa. Hôm thì “Thoát vị bẹn”, hôm lại “Thai chết lưu” hay “Vết thương mạch máu”. Cuối cùng đến hôm thi trúng được câu Giải phẫu “Vẽ thiết đồ ống bẹn” thì phải, còn lại chệch toàn phần. Không biết kết quả thi của Điền ra sao, đặc biệt thấy hơi hồi hộp. Mà nói vậy thôi, chứ thi Nội trú là việc quan trọng cả đời. Trừ những thằng cùng quẫn, đố đứa nào dám học tủ!

Tôi nhớ Huy kủng hay vừa ăn vừa kể chuyện (một cách hết sức có duyên) về những “va chạm nghề nghiệp” mà cậu ta từng gặp. Nói chung, buổi ăn trưa là một dịp hay để ôn lại quãng đời sinh viên học lâm sàng của mình, để nhớ về những buổi giao ban giảng đường C, về phòng mổ Việt Đức, hay kể lại câu chuyện một cô bé bị kim găm trong lớp mỡ dưới da dày quá các bác sĩ tìm không thấy, vv và vv… Chính từ những giờ phút nói cười thoải mái ấy, bao nhiêu giai thoại đã ra đời (chuyện về CIDS chẳng hạn). Những giai thoại trường Y tuyệt vời ở chỗ nó độc đáo và không dễ quên. Nó đi từ bệnh viện ra giảng đường, rồi vào quán nước, quán cơm. Nó lưu truyền trong các thế hệ sinh viên như một thứ “Tịch Tà kiếm phổ” mà lũ Y bé luôn thấy hấp dẫn và khao khát được thưởng thức.

Thế là một tuần đã trôi qua. Khi ta lỏng dây cương thì thời gian đi rất nhanh. Đã 1 tuần không đến quán ăn Bà Béo, cảm giác như mình không còn thuộc về những ngày ôn thi nội trú nữa. Quán ăn Bà Béo chắc vẫn đông, nhưng “giờ cao điểm” lúc 11h30 thì sẽ vắng hơn một chút. Chỉ 10 ngày nữa thôi, kết quả thi sẽ dán kín một góc tầng 3 nhà A1, không hiểu “bà Béo” có nằm trong số đám đông tò mò chạy lên xem điểm không nhỉ.

Tháng 1.2007

Gửi em

Em thân yêu,

Thế là ngày mai em đi lấy chồng. Anh tự hỏi những ngày sau đấy anh sẽ như thế nào. Tình hình xem ra khá là bi đát.

Anh sẽ không còn được chui vào nhà em buôn chuyện (chà, anh nhớ cái khu tập thể đấy, mỗi lần anh phóng xe vào luôn là một dịp tuyệt vời để mấy cụ già chép miệng và con chó ngu xuẩn cạnh nhà em sủa lên inh ỏi như chưa bao giờ được sủa). Buôn chuyện là một thói quen tốt, nó giúp anh thư giãn về tinh thần và mạnh mẽ hơn về thể chất; bởi vì đôi khi em lại đem kem, sữa chua ra mời anh (còn nếu em không mời thì anh sẽ hiểu em đã ra tín hiệu “Hãy ăn bánh ngọt đi!”, anh chỉ việc lấy bánh ngọt trong hộp, đơn giản vậy thôi).

Anh không thể đến nhà em “học nhóm” được nữa, dù rằng sự chăm chỉ gạo bài của chúng ta đôi khi hơi thái quá (ý anh muốn nhắc đến cái lần học Sinh lý năm Y2 tới gần nửa đêm, và buổi “ôn tập” Nhi vô cùng hoành tráng gần đây, hình như cũng quá 11h30 thì phải). Chúng ta đã cùng đọc như vẹt những dòng ngồn ngộn chữ của môn Tâm lý Y học, hoặc nhồi nhét mấy công thức Dược lý đủ để làm em “shock phản vệ”. Rồi còn cùng nhau “chia sẻ” những áng văn bất hủ của môn Triết nữa chứ (chắc em vẫn nhớ thế nào là “chia sẻ”, phải không?) Tất nhiên, thời gian học luôn luôn ít ỏi so với thời gian chat-chit hay ăn uống, nhưng mà anh với em vẫn là những học trò ngoan, thật thế!

Anh bắt đầu thấy nhớ lũ chó, mèo, gấu nhà em. Mỗi lần gặp anh, em đều bắt chúng chào anh theo cái cách (mà em cho là) hết sức dễ thương. Anh thì không thấy thế, và anh luôn sẵn sàng chà đạp lũ thú cưng đấy mỗi khi có thể – dù rằng chúng chỉ là thú nhồi bông thôi. Ngày mai, em sẽ bê tất cả lũ chúng nó về nhà chồng, bày trong tủ kính hoặc vứt lăn lóc trên đệm; để chồng em ngắm chúng, và bắt chồng em phải chào chúng. Ngay lúc này đây anh có thể tưởng tượng ra vẻ mặt ngán ngẩm của chồng em khi đó (anh ý có rất nhiều điểm giống anh, thật thế!)

Anh không biết mỗi khi có chuyện “thú vị” cần chia sẻ, anh sẽ tìm đến ai, em yêu quí ạ. Anh nhớ những buổi chiều anh đến chỉ để khoe em một vài tin tức “hot”, anh nhớ buổi sáng thi Đại học năm 2002, anh qua nhà em để kể nỗi lo lắng về cái đề thi Sinh củ chuối. Anh nhớ những lúc đến nhà em chỉ để nghe em vỗ về, vì em có thể đọc được trong mắt anh những điều anh chưa cần nói.

Có quá nhiều chuyện để anh nhớ, thật thế!

Tất nhiên là anh biết nhà chồng em (mà từ mai đó sẽ là nhà em). Nhưng anh hình dung ra một viễn cảnh không tươi sáng lắm khi anh vào nhà em, lấy bánh ngọt trong tủ, trêu lũ thú cưng của em. Trong lúc anh đang say sưa ăn uống và chat-chit thì chồng em (cũng say sưa chẳng kém) nói về lẩu lòng, HIV, hay Cytomega virus,… Đúng lúc đó mẹ chồng em xuất hiện, theo sau là … bà nội em. Em sẽ đóng vai nàng Li-Dơ ngồi khóc thút thít vì oan ức, chồng em đương nhiên là hoàng tử. Còn anh, còn vai diễn nào nữa đây ngoài mụ phù thuỷ độc ác và nham hiểm, giơ đầu ra chịu sự chà đạp (vì độc ác mà!) Nghiệt ngã quá, thật thế!

Tóm lại anh rất chi là buồn.

Và anh biết có những người còn buồn hơn anh.

Cả con chó Mập nhà hàng xóm nữa, nó chắc cũng sẽ buồn.

Nhưng mà anh biết em sẽ rất vui.

Em sẽ cười thật xinh (giống như mấy phim Hàn Quốc mà em vô cùng hâm mộ ấy). Có thể là sẽ khóc một chút xíu (ai mà biết), nhưng rồi cuối cùng em sẽ vẫn cười, vì chồng em sẽ làm em hạnh phúc, vì mẹ chồng em thật là dễ thương và bố chồng em thì coi em như con đẻ từ lâu lâu rồi.

Chúc em luôn vui mãi!

Yêu em rất nhiều!

Tháng 1.2007