“Those were the days, my friends…”

Hôm trước tụ tập liên hoan nội trú, để các anh chị năm cuối “giải đen” sau một kì thi vất vả, còn mấy em newbie năm đầu thì ra mắt các “đại ca”. Lâu lâu rồi mới có một “Resident Night” vui đến thế. Nhưng vài người không hứng thú tham gia. Mình với Yến B (nội trú khóa 29, đã ra trường được 1 năm), đều chẳng hiểu tại sao. Nghĩ lại, mình bây giờ không thân thiết với các anh chị em nội trú thì thân với ai. Công việc bận rộn, ở viện suốt ngày, thời gian chăm sóc cho gia đình chẳng có. Bạn bè thân thiết đứa đi nước ngoài, đứa lập gia đình, hoặc ai cũng bận bịu công việc sự nghiệp riêng, đâu phải lúc nào cũng gặp được nhau. Chỉ có nội trú, sáng cùng giao ban, trưa cùng ăn, chiều cùng trực buồng (hoặc cùng “đùn đẩy” nhau chuyện trực buồng), tối xuống phòng cấp cứu Tim mạch, chen nhau làm thủ thuật, đêm trực cùng chiến đấu ở C3, trông bệnh nhân nặng. Khi bệnh viện là nhà, thì nội trú như những anh chị em ruột thịt.

Nhớ hồi mình “còn bé”, tập làm thủ thuật, có mấy anh chị lớn đứng xung quanh cổ vũ bình luận (chỉ trỏ), run nhưng cũng vững tâm vài phần. Hay những tối thường trú, vào phòng bác sỹ trực thấy đông nghịt người, đứa ngồi internet tìm tài liệu, đứa chat chit YM, mấy đứa buôn chuyện; ngồi phịch xuống ghế than thở về một ca lâm sàng, để cả nhóm có dịp “mổ bò” sôi nổi. Nhớ những buổi trưa sinh hoạt chuyên môn theo kiểu “vừa học vừa ăn”, ai cũng buồn ngủ díp cả mắt, cứ phải đợi cơm hộp mới tỉnh ra. Nhớ nhất là những tối bệnh nhân nặng vào cấp cứu, nhân viên của viện hết giờ hành chính đi về hết, chỉ có đám nội trú hì hụi làm, dù “outcome” cực kì thấp. Và còn bao nhiêu buổi cà phê cà pháo, ngoài và trong giờ hành chính; các tiết mục nhậu nhẹt, cá độ này nọ (ví dụ: “Điện tâm đồ này anh đảm bảo tắc đoạn 1 LAD, nếu sai anh sẽ mời chú bữa bia”). Ai bảo cuộc sống nội trú là buồn tẻ!

Có biết bao việc để nội trú tâm sự, chỉ dạy cho nhau. Từ cách khám bệnh nhân, cách cho thuốc, cách chọc dịch màng tim hay đặt máy tạo nhịp, cách xin chữ kí để lần nào thày cũng duyệt, đến cách làm kiểm thảo tử vong, cách giải thích tình trạng nặng cho gia đình người bệnh, cách tự bảo vệ mình về mặt pháp lý trong các ca “nhạy cảm”, vv và vv… Hồi trước Kiddoc (nội trú khóa 30) thân với anh Tuấn A (khóa 28) một phần cũng vì anh Tuấn là người đầu tiên “cầm tay Kid dạy chọc dịch màng phổi”. Khi mình mới vào nội trú hay “lon ton” đi theo bà Yến B trong các đêm trực, học được lắm “võ” hay. Dạo ấy cám ơn Yến ghê gớm, vì cái gì cũng được tự làm, chị chỉ đứng “đỡ đầu”. Bây giờ mới biết nội trú lớn có “trẻ con” đi theo thật sung sướng và nhàn nhã (“trẻ con” chăm chỉ làm hết các việc tay chân rồi)… Thôi không tiết lộ nữa, để từ từ còn “chăn” mấy em khóa mới.

Rồi sau này, mỗi đứa sẽ theo một ngã rẽ khác nhau, ai biết được. Nhưng như chị Yến B nói với các em nội trú khóa 34 hôm trước (bên nồi lẩu): “Bây giờ bọn em ra đường, một là thủ thế, hai là xuất chiêu. Khi về với các anh chị nội trú Tim mạch thì không bao giờ cần nghĩ đến hai chuyện đó!”


Tháng 10.2009

L.B.

Khi Thụy Điển tái ngộ Đan Mạch

Khi Thụy Điển gặp lại Đan Mạch

Kí ức vẫn rõ rệt như một cuốn phim tài liệu. Umeå, thứ Bảy ngày 6/6/2009. Trước khi sơ kết nửa đầu khóa học, Kristina thông báo hôm nay người Thụy Điển có ba niềm vui để chờ đợi: ngày Quốc khánh, ngày Robin Soderling đụng đầu Roger Federer trong trận chung kết Roland Gaross, và ngày đội tuyển bóng đá Thụy Điển đón tiếp các vị hàng xóm Đan Mạch trên sân vận động quốc gia ở thủ đô Stockholm. Hellen ngay lập tức đứng lên hỏi mọi người có muốn tụ tập ở downtown tối nay để xem bóng đá hay không? Kì thi vất vả đã trôi qua, ngày nghỉ cuối tuần đang đến thật hào hứng. Cả lớp giơ tay đồng ý, và Hellen, duyên dáng trong bộ váy đen ngày lễ (buổi sơ kết khóa học cũng được cô coi là “holiday”), hứa sẽ đặt một bàn cho cả nhóm ở quầy bar trung tâm Umeå. Cô đến từ Đan Mạch, có lẽ sẽ là cổ động viên Đan Mạch duy nhất trong buổi tối hôm nay.

Umeå, thủ phủ xứ Västerbotten, là một thành phố nhỏ bé và trầm lặng ở miền cực Bắc. Không có tàu điện ngầm, không có nhà chọc trời, rất ít xe hơi và rất nhiều xe đạp. 18h, tôi cùng Ngọc Linh, anh bạn cùng phòng, rời khách sạn và đi bộ về phía downtown. Ngày cuối tuần, Umeå như vắng vẻ hơn trong những cơn gió lạnh buốt da. Gần nhà hàng O’Learys, dân tình xếp thành hàng dài trước máy rút tiền ATM. Sẽ có một đêm Quốc khánh rất vui, với rất nhiều bia được rót, nhiều rượu được khui, và nhiều tiền mặt rút ra khỏi ví. Lúc ấy, ở Paris, Soderling đang bị Federer áp đảo hoàn toàn; nhưng có hề gì, cả Thụy Điển vẫn hào hứng chờ đợi chiến thắng từ sân vận động quốc gia Stockholm, một niềm vui đủ lớn để xua đi mọi nỗi buồn thất bại khác.

Quán O’Learys chật cứng người. Không rõ Hellen đã đặt chỗ thế nào, nhưng chúng tôi chỉ có thể đứng xung quanh một chiếc bàn nhỏ. Chúng tôi phải chia sẻ bàn với hai người đàn ông Thụy Điển đứng tuổi. Họ xem trận đấu một cách chậm rãi và điềm đạm, mặc cho những ly bia được rót ra liên tục đang tố cáo sự phấn khích âm thầm. Hellen, ngược lại, vui tươi và sôi nổi như một cô nữ sinh. Cô vừa gạ được Edison, cậu bạn cùng lớp đến từ Columbia, trở thành cổ động viên của Đan Mạch. Ít nhất, sẽ có người để cô cụng ly sau mỗi pha bóng đẹp của đội nhà. Mà nếu cô không nhờ Edison, chúng tôi cũng sẵn sàng làm điều đó, dù rằng trong thâm tâm, tôi yêu quý Thụy Điển hơn.

Có lạ kỳ không, khi trong ngày trọng đại ấy, bi kịch nối tiếp đến với đội quân áo vàng. Phút thứ sáu của trận đấu, Thụy Điển được hưởng một quả penalty. Källström bước lên chấm phạt đền, và sút hỏng, để lại phía sau lưng cả một biển người lặng im thất vọng trong ngày Quốc khánh. Khi thủ thành Sorensen chặn được cú đá phạt đền quá hiền ấy, anh cũng chặn luôn những giọt bia đang chực tuôn trào ở hàng ngàn quán bar trên đất Thụy Điển, trong đó có quán O’Learys. Chưa đầy 20 phút sau, Đan Mạch mở tỉ số. Tôi quay sang Hellen, cô sung sướng như một đứa trẻ, không để ý tới xung quanh. Cô nhảy múa, cô hôn lên má Edison, bá vai tôi, và ca hát mặc kệ đám người đang câm lặng trong quán. Có sao đâu, tình yêu không có tội, nếu Soderling được quyền khóc cho thất bại thì Hellen cũng có quyền nhảy múa với niềm vui rất chính đáng của mình.

Chơi trên sân nhà, bỏ lỡ một quả penalty, và bị thủng lưới trước. Không còn kết cục nào tệ hơn cho các cổ động viên áo vàng. Nhưng có lẽ Chúa Trời thấy như thế là chưa đủ, nên từ lúc đó đến cuối trận đấu, liên tục Ibrahimovich, Larsson, Andersson thi nhau sút bóng ra ngoài. Để người Thụy Điển tiếp tục nhấm nháp từng giọt bia trong u buồn, còn Hellen thì cứ ca hát đến tận phút thứ 90. Người đàn ông cùng bàn ngồi bất động, chỉ có chòm râu hơi khẽ rung sau mỗi pha bóng hỏng ăn của đội nhà. Ông có bộ râu rất đặc trưng của xứ Scandinavi, giống như Nobel, giống huấn luyện viên Lagerback, giống ông bố Emil trong truyện “Emil trên mái nhà” của Astrid Lindgren, nói chung là giống hàng ngàn ông già Thụy Điển 60 tuổi khác. Cuối cùng, khi sự thất vọng không còn chỗ để tuôn trào nữa, ông quay sang bắt chuyện với chúng tôi. Ông đã sống hơn 50 năm ở Umeå, từ ngày nó còn là một thị trấn nhỏ, và hiếm khi đi khỏi đây. Đây là lần đầu tiên ông xem bóng đá cùng nhiều người ngoại quốc đến thế. “Một trải nghiệm thú vị”, ông bảo Hellen, “Tôi rất vui vì cô đã đến ngồi bàn này, cùng những người bạn của cô. Congratulations!”. Hellen cười rất tươi và gọi luôn một lúc cả chục ly bia đãi mọi người. Samuel, học viên đến từ Nigieria, kể rằng ở chỗ anh, một cổ động viên ngoại lai như Hellen có thể bị đám đông đuổi đánh cho đến chết. Hai người Thụy Điển ngạc nhiên, còn tôi thì không. Ở Việt Nam, cổ động viên Hải Phòng hay Nghệ An đôi khi cũng thế. Nhưng đây là Thụy Điển. Tình yêu của người hâm mộ ở đâu cũng nồng cháy như nhau, nhưng cư xử với đối thủ sao cho văn minh thì không phải ai cũng làm được. Chẳng phải họ đang bắt tay Hellen rất chặt hay sao, dù rằng tỉ số là 0-1, và truyền hình đang chiếu cảnh Ibrahimovic rời sân và mái đầu cúi thấp. Tôi chụp vài kiểu ảnh kỉ niệm cho Hellen. “Về sau, lúc về già ấy, cô có thể kể lại với con cháu rằng cô đã một mình cổ vũ cho Đan Mạch trên đất Thụy Điển”, ông già Thụy Điển nốc hết ly bia. “Ồ, bạn chụp ảnh tôi ah, tôi cũng muốn chụp ảnh các bạn, đứng sát vào nhau đi” – ông nói và rút một chiếc điện thoại Sony Ericsson cũ kĩ từ trong túi ra. Tôi tự hỏi ở Việt Nam bây giờ có ai còn xài loại “cục gạch” chụp ảnh 1.3 Mpx này nữa không, nhưng người Thụy Điển vẫn ưa những đồ “nồi đồng cối đá” hơn, như xe Volvo, như máy giặt Electrolux, không bóng bảy mà bền và hiệu quả. Chiếc điện thoại Ericsson cũng thế, nó đủ giúp ông chủ lưu lại một tấm hình lưu niệm đẹp về những người bạn ngoại quốc mới quen, vì tôi thấy ông mỉm cười rất hài lòng.

22h đêm. Chúng tôi rời quán O’Learys. Gần quảng trường trung tâm, vẫn còn dăm ba đám cổ động viên chụm lại hút thuốc trong gió rét. Thế là Thụy Điển đã thua, ngay trên sân nhà, ngay trong ngày Quốc khánh. Tôi hơi buồn đôi chút. Từ lâu, đất nước yên bình này đã chiếm một một góc thân thương trong tôi. Nhưng dù sao, cuộc đua còn dài, và nếu Zlatan Ibrahimovic không gặp may buổi tối hôm nay, anh và đồng đội vẫn còn nhiều dịp để sửa sai. Còn lúc này, Hellen đang rủ cả nhóm đi nhảy. Đêm thứ Bảy mà về nhà trước nửa đêm thì quá sớm, thi cử cũng đã xong xuôi. Thế tội gì mà không đi với cô, để cùng ăn mừng một buổi xem bóng đá đáng nhớ.

Tôi ôm lấy Hellen để chúc mừng cô, Khi ấy, tôi không nghĩ rằng khi Thụy Điển tái ngộ Đan Mạch, trong buổi tối tháng Mười quyết định này, tôi sẽ nhớ buổi tối hôm đó đến thế. Tối 10/10/2009, Đan Mạch được chơi trên sân nhà, và hẳn là Hellen sẽ chẳng cần nhờ bọn tôi làm “đồng đội” nữa. Còn giả sử tôi có mặt ở đấy, cùng với Hellen, tôi biết tôi sẽ hát khi Ibrahimovic đánh gót ghi bàn…

 

 

Tháng 10.2009

Dinh Linh