Black Swan

Xem Black Swan, cảm nhận rõ nhất là sự đam mê của nhân vật nữ chính (ở đây là đam mê với nghệ thuật ballet). Không có đam mê thì sẽ không làm được gì cả. Đam mê đến mức thành ám ảnh. Đam mê trong những phút cô độc, hay giữa đám đông, khi tỉnh táo hay chập chờn cơn mơ. Đam mê là gì, phải chăng là ranh giới cuối cùng của sự yêu thích? Không có chỗ cho những băn khoăn do dự của người giữa dòng. Đam mê phải rạo rực, dồn nén, tha thiết, băn khoăn. Hơi cực đoan, nhưng đó là cuộc chơi hoặc có tất cả, hoặc chẳng đạt được gì.

Xét trên khía cạnh ấy, nhân vật Nina thực sự là một người may mắn. Không phải may mắn vì được chọn làm Swan Queen. Nina may mắn vì tìm được một đam mê của đời mình. Một đam mê để mình có thể dũng cảm sống chết cùng với nó. Nina, có nét gì hơi giống Đan-kô của Gorki, mang trong mình tình yêu dữ dội đủ để đánh thức những cảm xúc mãnh liệt nhất từ những người xung quanh. Thật thế, đam mê giống như tình yêu. Không phải ai cũng sẵn sàng “mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”. Bên cạnh vấn đề cá tính, còn là lý do đơn giản: liệu “người ấy” có đủ xứng đáng để mình “trèo đèo, lội suối” hay không. Tìm được một tình yêu như thế, chắc chắn là rất hạnh phúc rồi.

Tôi không thích lắm phần kết của Black Swan. Cái cách nhân vật nữ chính nhủ thầm “I was perfect!” có gì hơi lạc điệu với tính khái quát và những cảm xúc dồn nén liên tiếp của bộ phim. Chẳng cần cô phải nói ra, bởi được sống cho đam mê và tình yêu của mình đã là một thành công không phải ai cũng có được.

Hơn nữa, khi đã nỗ lực đến tận cùng giới hạn của bản thân, đã phải hy sinh một phần thể xác và tâm hồn cho tình yêu và đam mê, thì thành công hay thất bại liệu có quan trọng gì?

Còn gì nữa để nói về Black Swan? Phim gọi lại kí ức về những buổi tập nhảy năm 2006, ở tầng hai HYEC, ở bậc thềm cung văn hóa Hữu Nghị, ở phòng họp trường Chu Văn An, ở câu lạc bộ sinh viên trường Y,… Dù sao, khiêu vũ là quá khứ. Giờ đây, những góc quay đẹp như mơ của Black Swan lại thôi thúc ước muốn chụp ảnh diễn viên múa của mình. Trong một phòng tập lớn, trống trải, người mẫu sẽ hơi lặng lẽ và cô độc, có thể tạo dáng bằng các “pose” phức tạp hoặc đơn giản là phiêu trong từng vũ hình. Chụp phim, đương nhiên, bằng phim khổ trung (medium format), giá kiếm được Hasselblad thì tốt. Sẽ có một ngày mình thực hiện ước mơ ấy…

Hiện tại, hãy để nhiếp ảnh nhường chỗ cho đam mê!

Tháng 4.2011

Đinh Linh

Một trường hợp cơn tim nhanh

Bệnh sử như sau: Bệnh nhân nam 23 tuổi, chưa xuất hiện cơn tim nhanh lần nào, chưa phát hiện bệnh tim mạch. Vào viện vì cơn tim nhanh ngày thứ 3.
Khám vào viện: Tỉnh, tiếp xúc tốt, không đau ngực, không khó thở. Nhịp tim đều, tần số 200 CK/phút. Huyết áp: 110/60 mmHg.

Đây là điện tâm đồ ghi được khi bệnh nhân nhập viện.

Điện tâm đồ khi vào viện

Bệnh nhân có tình trạng huyết động ổn định. Điện tâm đồ cho thấy hình ảnh cơn tim nhanh QRS thanh mảnh, tần số thất khoảng 220 CK/phút. Bệnh nhân được chẩn đoán: cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất.

Xử trí: Làm nghiệm pháp Valsava: không cắt được cơn. Tiêm adenosine (3 lần tiêm, liều 6 mg, 12 mg, 12 mg): không cắt được cơn.

Bệnh nhân được truyền amiodarone (liều bolus 300 mg/20 phút, sau đó duy trì 1 mg/phút). Sau 30 phút, cắt được cơn tim nhanh. Điện tâm đồ về nhịp xoang:

Điện tâm đồ sau truyền amiodarone

Câu hỏi đặt ra là: chẩn đoán và xử trí cơn tim nhanh như thế có chính xác không?

Thông thường, cơn tim nhanh QRS thanh mảnh thường là nhịp nhanh trên thất. Tuy nhiên cơn tim nhanh của bệnh nhân có một số điểm đáng lưu ý:

1) Phức bộ QRS có hướng âm ở các chuyển đạo DII, DII, aVF, V5, V6.

Nguyên tắc ghi điện tim là: Nếu vector khử cực hướng về phía điện cực dương của chuyển đạo thì sẽ tạo ra một sóng dương ở chuyển đạo đó. Ngược lại: nếu vector khử cực đi xa điện cực dương thì sẽ tạo ra sóng âm (hình minh họa). Theo tam trục kép Bayley, các chuyển đạo DII, DIII, aVF có điện cực dương nằm phía dưới. Nghĩa là quá trình khử cực của bệnh nhân phải theo hướng từ dưới lên trên, gợi ý ổ phát nhịp ở tầng thất hơn là tầng nhĩ.

2) Điện tâm đồ có dạng blốc nhánh phải, và phức bộ QRS ở V5, V6 có dạng rS

Theo tiêu chuẩn Brugada, có một số hình thái QRS gợi ý cơn tim nhanh thất: đó là dạng blốc nhánh phải, và dạng sóng r nhỏ, S lớn ở V5, V6. Độ nhạy tuy không cao, nhưng độ đặc hiệu rất cao.

3) Ở các chuyển đạo V4, V5, V6, có thể thấy những dạng sóng nghi ngờ là sóng P. Chứng tỏ có phân ly nhĩ thất.

Như vậy, mặc dù QRS thanh mảnh, điện tâm đồ của bệnh nhân là cơn tim nhanh thất, không phải cơn tim nhanh trên thất.

Thực sự, đây là một trường hợp điển hình của cơn tim nhanh thất nhạy cảm với verapamil (verapamil sensitive ventricular tachycardia). Cơn tim nhanh này có các đặc điểm như sau [1]:

– Thường có trục trái, blốc nhánh phải

– QRS ở các chuyển đạo trước tim thanh mảnh (<150 ms)

– Phức bộ QRS âm ở DII, DIII, aVF, V5, V6

– Thường xuất hiện ở những bệnh nhân trẻ tuổi, không có bệnh tim thực thể (chiếm đa số các trường hợp tim nhanh thất vô căn, idiopathic ventricular tachycardia)

– Đáp ứng với verapamil

– Cơn tim nhanh khởi phát ở thành sau dưới thất trái. Tỉ lệ thành công khi điều trị RF cao (92%) [2]

Khác với các thuốc dùng trong xử trí cơn tim nhanh khác (lidocain, adenosine, chẹn beta giao cảm, verapamil,…) amiodarone có thể dùng để cắt cả cơn tim nhanh thất lẫn tim nhanh trên thất. Vì thế amiodarone không có tác dụng chẩn đoán phân biệt. Ngoài ra, thuốc còn có thể gây khó khăn cho bác sỹ nhịp học khi điều trị RF. Trong trường hợp lâm sàng này, ngoài amiodarone, có thể cắt cơn bằng verapamil, với liều 1,5-2,5 mg tiêm tĩnh mạch.

Tim nhanh thất nhạy cảm với verapamil (Nguồn: Mayo Clinic)

Tài liệu tham khảo:

1. Thomas M. Munger. Ventricular Tachycardia. Mayo Clinic Cardiology Consise Textbook. 3rd Edt: 389-404

2. Pérez Díez, D., Brugada, J. How to recognise and manage idiopathic ventricular tachycardia. ESC E-Journal Vol 8.