Minuet của Boccherini

Cuối tháng 11, có gì để nhớ về Hà nội?

Thực ra cũng nhớ vài thứ nho nhỏ:

– Nhớ những cây nến cháy mùi quế trong phòng thay đồ của bể bơi Bốn Mùa Định Công, ngày Hà nội rét dưới 10 độ C.

– Nhớ bát phở bò Hà nội nghi ngút khói, mà phải là phở trong một quán nhếch nhác, mặt bàn lấm lem mỡ, sàn nhà vung vãi những mẩu giấy ăn mới “đúng vị”

– Nhớ một buổi tối thứ Sáu uống rượu Whisky lúc 12 giờ đêm cùng thày và các anh em trong phòng thông tim, sau khi kết thúc ca can thiệp cuối cùng

– Nhớ cơn mưa đêm ở Nhà hát lớn. Phố vắng, đèn vàng, đêm lạnh

– Nhớ hoàng hôn gay gắt đỏ rực trên cầu Thanh Trì, những buổi chiều tập xe đạp

– Hiện tại thì đang nhớ nhất cảm giác ngồi ở Luala uống Long Black, nghe dàn nhạc dây chơi bản Minuet của Boccherini

Singapore, tháng 11.2012

Summertime

Summertime (Mùa hạ) có lẽ là bản nhạc jazz nổi tiếng nhất trên thế giới. Ra mắt công chúng năm 1935, thời mà sân khấu Broadway đóng vai trò quan trọng trong việc giới thiệu các nhạc phẩm mới, khởi thủy Summertime là một khúc hát ru trong vở opera “Porgy và Bess” (câu hát “So hush little baby, don’t you cry” được lặp lại nhiều lần trong bài). Tác giả bài hát là nhà soạn nhạc George Gershwin, một tượng đài âm nhạc những năm đầu thế kỉ XX, người mà ngoài Summertime còn có nhiều ca khúc jazz rất hay khác như Embraceable You, Someone To Watch Over Me, The Man I Love,… Với âm nhạc là sự pha trộn nhạc blues của người Mỹ gốc Phi và các yếu tố dân ca, cùng phần ca từ được mô tả là “ngập tràn hình ảnh và hình tượng tôn giáo”, Summertime có thể được trình diễn với nhiều tiết tấu khác nhau, theo nhiều phong cách khác nhau, tùy thuộc vào nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau – tóm lại, là cơ sở tuyệt vời cho tinh thần ngẫu hứng (improvisation) của jazz.

Ngày nay có lẽ chẳng mấy ai còn biết tới George Gershwin. Nhưng sau gần 80 năm, bạn vẫn có thể nghe giai điệu mượt mà của Summertime ở mọi sân khấu jazz trên thế giới, từ quán café bình dân cho tới quầy bar tại các khách sạn sang trọng. Theo thống kê, có đến 2600 phiên bản của bài hát này. Ngay từ năm 1936, trong thời kỳ huy hoàng đầu tiên với hãng đĩa Columbia Records, Billie Holiday (hay Lady Day – quý bà hát nhạc blues), đã đưa Summertime lên vị trí thứ 12 trên bảng xếp hạng âm nhạc quốc gia. Tiếp nối Lady Day là hàng loạt tên tuổi đình đám của dòng jazz kinh điển như Miles Davis, Ella Fitzgerald, Louis Armstrong, Sarah Vaughan, John Coltrane, Charlie Parker, hay Duke Ellington… Dĩ nhiên là chẳng vị nào chịu hạ mình bắt chước vị nào. Trong khi Charlie Parker đầy hoài niệm với màn alto sax solo dài 3 phút, thì John Coltrane sẵn sàng phiêu cùng nhóm tứ tấu của mình tới 11 phút. Phiên bản của John, chơi ở cung Rê thứ, với nhiều khúc biến tấu tenor sax và piano đầy ngẫu hứng, đem đến cho thính giả một Summertime cao hơn, nhanh hơn,  sôi nổi và đam mê. Thành công nhất về mặt thương mại lại là Billy Stewart, lọt vào Top Ten Billboard năm 1966 bằng một bản phối hiện đại đầy chất RnB, rất ít tương đồng với phong cách jazz cổ điển những năm 1930. Tuy vậy, sức sống của bài hát không nằm ở các bảng xếp hạng, bởi bản thu âm được ưa thích nhất vẫn luôn là Summertime của bộ đôi huyền thoại Ella Fitzgerald và Louis Armstrong. Với tiết tấu chậm rãi, giọng hát rất đẹp của Ella thong thả đi từ nốt thấp nhất lên nốt cao nhất, ve vuốt cảm xúc của người nghe. Tiếng kèn trumpet da diết gợi kí ức về những buổi trưa hè trễ nải. Trời xanh ngăn ngắt, không gian tĩnh lặng, lòng người cũng yên bình, lười biếng, pha chút u buồn thanh thản…

Summertime and the livin’ is easy
Fish are jumpin’ and the cotton is high
Yo’ daddy’s rich and yo’ mama’s good lookin’
So hush little baby, don’t you cry

One of these mornin’s you gonna rise up singin’
You gonna spread your little wings and you’ll take to the sky
But ’till that mornin’ there ain’t nothin’ gonna harm you
With yo mama and daddy standin’ bye

Now it’s summertime and the livin’ is easy
Them fish are jumpin’ and the cotton’s ’bout waist high
Yo’ daddy’s rich and, ya know yo’ mama’s good lookin’
Now hush little baby, don’t you cry

Black Swan

Xem Black Swan, cảm nhận rõ nhất là sự đam mê của nhân vật nữ chính (ở đây là đam mê với nghệ thuật ballet). Không có đam mê thì sẽ không làm được gì cả. Đam mê đến mức thành ám ảnh. Đam mê trong những phút cô độc, hay giữa đám đông, khi tỉnh táo hay chập chờn cơn mơ. Đam mê là gì, phải chăng là ranh giới cuối cùng của sự yêu thích? Không có chỗ cho những băn khoăn do dự của người giữa dòng. Đam mê phải rạo rực, dồn nén, tha thiết, băn khoăn. Hơi cực đoan, nhưng đó là cuộc chơi hoặc có tất cả, hoặc chẳng đạt được gì.

Xét trên khía cạnh ấy, nhân vật Nina thực sự là một người may mắn. Không phải may mắn vì được chọn làm Swan Queen. Nina may mắn vì tìm được một đam mê của đời mình. Một đam mê để mình có thể dũng cảm sống chết cùng với nó. Nina, có nét gì hơi giống Đan-kô của Gorki, mang trong mình tình yêu dữ dội đủ để đánh thức những cảm xúc mãnh liệt nhất từ những người xung quanh. Thật thế, đam mê giống như tình yêu. Không phải ai cũng sẵn sàng “mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”. Bên cạnh vấn đề cá tính, còn là lý do đơn giản: liệu “người ấy” có đủ xứng đáng để mình “trèo đèo, lội suối” hay không. Tìm được một tình yêu như thế, chắc chắn là rất hạnh phúc rồi.

Tôi không thích lắm phần kết của Black Swan. Cái cách nhân vật nữ chính nhủ thầm “I was perfect!” có gì hơi lạc điệu với tính khái quát và những cảm xúc dồn nén liên tiếp của bộ phim. Chẳng cần cô phải nói ra, bởi được sống cho đam mê và tình yêu của mình đã là một thành công không phải ai cũng có được.

Hơn nữa, khi đã nỗ lực đến tận cùng giới hạn của bản thân, đã phải hy sinh một phần thể xác và tâm hồn cho tình yêu và đam mê, thì thành công hay thất bại liệu có quan trọng gì?

Còn gì nữa để nói về Black Swan? Phim gọi lại kí ức về những buổi tập nhảy năm 2006, ở tầng hai HYEC, ở bậc thềm cung văn hóa Hữu Nghị, ở phòng họp trường Chu Văn An, ở câu lạc bộ sinh viên trường Y,… Dù sao, khiêu vũ là quá khứ. Giờ đây, những góc quay đẹp như mơ của Black Swan lại thôi thúc ước muốn chụp ảnh diễn viên múa của mình. Trong một phòng tập lớn, trống trải, người mẫu sẽ hơi lặng lẽ và cô độc, có thể tạo dáng bằng các “pose” phức tạp hoặc đơn giản là phiêu trong từng vũ hình. Chụp phim, đương nhiên, bằng phim khổ trung (medium format), giá kiếm được Hasselblad thì tốt. Sẽ có một ngày mình thực hiện ước mơ ấy…

Hiện tại, hãy để nhiếp ảnh nhường chỗ cho đam mê!

Tháng 4.2011

Đinh Linh

“Buồn ơi, chào mi…!”

Giải đấu kết thúc lúc hơn 9h. Đúng ra, với đám đông, cuộc thi vẫn kéo dài tới gần 11h đêm. Nhưng với tôi, nó kết thúc khoảng lúc 9h15. Thực lòng, tôi không thể nhớ rõ thời điểm đó. Tôi không nhớ, không nhìn thấy gì cả…

Phải thú nhận là cảm giác thất bại chẳng dễ chịu chút nào; nó đắng ngắt và hết sức khó nuốt trôi. Macca giang tay ra an ủi, và tôi đáp lại bằng một nụ cười méo mó. Tự dưng muốn ôm bạn vào lòng quá! Chắc Mac cũng hiểu được một phần sự thất vọng của tôi – người không quen thua trận. Dĩ nhiên, tôi biết thực lực của bản thân, khi nhìn vào bốn đôi còn lại của HYEC có tố chất và thâm niên luyện tập hơn hẳn. Thất bại là một phần của cuộc chơi, và đôi lúc cũng cần phải học cách chấp nhận nó. Nhưng dẫu vậy … ai lại có thể không buồn!

Uh, đây cũng là một kì thi. Tôi bước vào kì thi ấy bằng thói quen của những lần thi khác: chỉnh chu đến mức cầu toàn, cường độ “ôn tập” gắt gao trong thời điểm “nước rút”, sự chuẩn bị về tâm lý, vv và vv… 2 phút trước giờ đấu, tôi vào phòng vệ sinh và vốc nước lên mặt. Không, tôi hoàn toàn không căng thẳng! Những giọt nước mát lạnh gợi lại kí ức về các buổi thi vấn đáp hay thi lâm sàng. Cần phải thoải mái, cần phải mạnh mẽ, cần phải tự tin,… để thể hiện tốt nhất tất cả những gì mình có.

Sàn đấu không đẹp như tôi nghĩ. Nhưng khi ra thử sàn, chìm trong tiếng nhạc cùng ánh đèn rực rỡ và không khí rộn rã của đám đông, ngắm những đôi nhảy Ballroom váy đỏ váy tím váy vàng tung bay phơ phất, tôi thấy rằng đây là cái sàn nhảy hoành tráng nhất mà tôi từng chơi.

Bài thi kéo dài khoảng 5 phút, với ba điệu nhảy. Tôi nhận ra partner của tôi hôm nay quá tuyệt. Em chẳng phạm phải một lỗi nhỏ nào cả, và dường như tôi cũng thế. Khi bài nhảy diễn ra trơn tru không vấp váp, tôi có thể tận hưởng cảm giác “phê” của khiêu vũ và thả cho xúc cảm phiêu bồng theo nhịp nhạc. Tôi không nhìn thấy trọng tài hay các đôi thi đấu khác, tôi chỉ nhớ những lúc lướt qua hàng ghế của nhóm cổ động viên HYEC và nghe tiếng vỗ tay nổi lên. Tôi nhớ bài Tango họ dùng để thi là Ole Guapa, một bản nhạc kinh điển mà tôi từng nghe đi nghe lại đến cả trăm lần (nhưng bản mix này có vẻ hay và “đậm chất Tango” hơn!) Tôi cũng nhớ cái chiều dài đáng ngạc nhiên của sàn thi đấu, nó cho phép người chơi thực hiện bước Reverse Turn của điệu Viennese Waltz một cách không quá vất vả (lúc chiều khi lần đầu tham quan sàn đấu, tôi đã ghi nhớ đặc điểm này)… Nói chung, mọi thứ đều tuyệt vời và giống như những gì tôi đã hình dung. Nói chung, đây là một bài thi tốt.

Anh Hưng vỗ vai tôi “Có quan trọng gì đâu em…”, rồi hỏi vui: “Sao, đợt tới phục thù chứ?” Hẳn rồi anh ạ, nếu như em có thời gian… Mà chắc chắn em sẽ có thời gian. Không phải để “phục thù”, chỉ là để một lần nữa được sống trong những cảm xúc rạo rực của niềm đam mê – như buổi tối hôm nay.

Ba đôi giày nhảy

Hai chiếc quần khiêu vũ

Hai bàn chải sắt và một gói nhựa thông

Ba DVD nhạc nhảy

6 Gb tài liệu dạy khiêu vũ (bao gồm video, sách, các bài giảng,…)

5,6 VCD các cuộc thi đấu

Một bộ quần áo thi đấu (còn nguyên số báo danh gắn trên lưng)

Từ mai, tạm thời quẳng tất cả vào tủ đã. Cần dành thời gian và tâm sức cho một cuộc chơi mới – một cuộc chơi “thân thuộc” hơn, quan trọng hơn, một cuộc chơi không được phép thất bại. Còn niềm đam mê, sẽ có chỗ dành riêng cho nó sau.

A new game has started…

 

 

Tháng 10.2006

Từ các bước nhảy đến âm nhạc

Tôi đi học khiêu vũ. Hình như là cuối năm Y1. Nhạc cảm dưới mức bình thường cùng khả năng không thể bắt chước chuyển động của thày giáo khiến Giang, partner của tôi hồi đó, bao lần phải dừng nhảy để … đứng cười rũ rượi. Ức chế ghê gớm khi mình càng cố công trau chuốt thì các động tác lại các trở nên cứng nhắc vụng về, nhưng thôi tự an ủi rằng partner được cái “thật lòng” và “thẳng tính”. Có lẽ chỉ có sự ham mê không lý giải nổi mới giữ tôi lại với dancing sau một khoá học 3 tháng vất vả mà không chút thành tựu. Hồi đó là thuở “hồng hoang” của dancesport. Chúng tôi tập nhảy với bộ 4 đĩa CD Let’s Dance có những bản Cha Cha trống nện thình thình (vậy mà sao tôi vẫn không thể phân biệt đâu là “phách mạnh”). Lớp học ở tầng 2 sàn Nghĩa Hiệp. Thỉnh thoảng mấy anh chị rủ lên tầng 3 chơi, sàn nhảy không lớn, toàn mấy ông bụng phệ sơ-vin quay cuồng lắc hông cùng mấy bà đầm mặc váy trắng xịt nước hoa thơm nồng nặc. Thấy dân tình nhảy xấu òm, chỉ có các anh chị trong lớp là “cao thủ”. Mình mới học nên kém tự tin kinh khủng. Chỉ khi nào tập dượt kĩ càng vài ba vũ hình lạ lạ (hoặc là “kì dị”) hai đứa mới dám khẽ khàng bước ra nhảy loanh quanh ở giữa sàn. Nhắc đến Giang lại nhớ, giá mà có dịp mời Giang nhảy lại một bản Rumba nhỉ.

Tôi thích nhảy. Không biết có gọi là “đam mê” không nhưng tôi có thể thức cả đêm để xem video khiêu vũ, tôi cảm giác có thể tập nhảy bất cứ lúc nào và trò chuyện về dancing với bất kì ai. Những chuyển động cơ thể dần trở nên mềm mại hơn, giống ý thày giáo hơn (tất nhiên vấn đề ở đây là có nhiều loại thày và thày chưa chắc đã đúng – đó là nhận xét tôi rút ra sau khi thỉnh giáo khoảng 10 vũ sư khắp đất Hà Thành). Tuy nhiên cái tai nghe nhạc tệ hại khiến trình độ của tôi vẫn chỉ loanh quanh ở mức “pre-beginner” (bạn biết đấy, “âm nhạc là cái hồn của khiêu vũ”, nhảy không khớp nhạc thì khéo đến đâu cũng bỏ đi). Cuối năm 2003, tôi đến cửa hàng 112 Triệu Việt Vương – địa chỉ cung cấp tài liệu dancing duy nhất thời đó – rinh về một CD có khoảng 200 bài mp3 nhạc nhảy. Tôi nghe nhạc bất cứ khi nào bật máy tính. Tôi vừa nghe vừa tưởng tượng ra các bước nhảy mình sẽ đi. Câu nhạc này mình sẽ đi Close Promenade, tempo Slow Quick Quick Slow, đại khái thế,… Có vẻ đúng nhạc nhưng lúc nhảy thực sự thì được một lúc là tai lại bập bùng chả phân biệt được cái gì nữa. Cha Cha thì vẫn chuyên vào nhạc ở phách mạnh. Chán và nản chí ghê gớm.

Chi li như một ông già, tôi chỉ thích học các lớp cơ bản. Tôi cảm thấy chẳng thú vị chút nào khi lên lớp nâng cao mà chưa thành thạo các kĩ thuật basic. Đầu năm 2004, tôi đến tập vài buổi tại phòng học tại gia của bác Vo_danh (thành viên kì cựu của trang web http://www.vietnamdancesport.net, chúng tôi hay gọi nhau bằng nick). Bác Vo_danh là người rất am hiểu âm nhạc và có thâm niên khoảng 20 năm nghiên cứu khiêu vũ. Bác dạy tôi những khái niệm đầu tiên về “các cấp độ nghe nhạc tương ứng với trình độ khiêu vũ”. Đại khái là mới học nhảy thì chỉ cần đi thế này đã là đúng nhạc rồi, sau đó lên trình độ cao hơn lại phải cảm nhận âm nhạc theo cách khác. Nhận thức là một quá trình xoáy trôn ốc, khi học cao lên chúng ta sẽ gặp lại những vấn đề cơ bản, nhưng ở mức độ cao cấp hơn, đòi hỏi một cách tiếp cận kiến thức khác. Đó là lý do tại sao người nhảy Tango hàng đầu Việt Nam lại bị dân tình coi là đi … sai nhạc. Chỉ có các chuyên gia khiêu vũ thế giới là vẫn thấy đúng nhạc và chấm cho anh giải nhất.

Ở lớp học tại gia này, lần đầu tiên tôi được gặp anh Sơn (a.k.a Pantherson). Đây là người mà theo tôi là có kiến thức khiêu vũ và trình độ thị phạm toàn diện nhất Hà Nội hiện nay, cũng là “sư phụ” của tôi hiện giờ. Hồi đó, Pantherson tập Tango với Khánh Chi (hình như là để chuẩn bị biểu diễn). Tôi thích ngắm đôi nhảy này nên nán lại để xem. Tôi chưa thấy ai “sensitive” với âm nhạc như Pan. Nhạc cảm của anh thể hiện không chỉ ở bước chân, chuyển động mà còn cả ở khuôn mặt, ở cách đọc tên các nhịp điệu: Quick, Quick (dứt khoát), Slowww, Slowwwww (kéo dài giọng), and Slow (ngắt quãng đột ngột). Hôm đó họ tập theo bài La Cumparsita (một bản Tango kinh điển đã từng được Khánh Ly “Việt hoá” qua bài hát “Vũ nữ thân gày”). Đang tập thì nhà mất điện. Trời mưa to và phòng rất tối. Bác Vo_danh thắp 3 cây nến ở góc nhà, Pan và Khánh Chi tiếp tục nhảy. Khung cảnh lãng mạn như trong một tác phẩm của Nguyễn Tuân. Nhảy không có nhạc nhưng tempo vẫn cực chuẩn, và người xem vẫn cảm nhận được sắc thái của bài nhạc Tango. Dường như với các “cao thủ”, nhịp điệu của khiêu vũ là nhịp điệu xuất phát từ trong cơ thể chứ không phải từ bên ngoài. Với mỗi bài nhạc họ không nghe câu hát, không nghe nốt bổng nốt trầm, họ chỉ cảm nhận sắc thái, nhịp điệu của bài nhạc và điều chỉnh các chuyển động sẵn có của cơ thể theo nhịp điệu đó.

***

Bây giờ thì tôi đã nghe được khá tốt các thể loại nhạc mà tôi có thể nhảy. Tôi nhớ những tối mùa đông ở Stockholm, trời lạnh và tuyết rơi nhiều. Tôi đi bộ từ bến xe buýt về nhà. Thật tuyệt vời khi ta vừa đi bộ vừa nghe nhạc. Các bước chân như gấp hơn theo nhịp nhạc, và quãng đường xa sẽ ngắn lại rất nhiều. Tôi đi nhanh và cố gắng để chân phải luôn bước đúng phách mạnh của một bản Cha Cha yêu thích. Đó là bài Todo Todo Todo – bài nhạc thật sôi nổi trẻ trung với đoạn điệp khúc có giai điệu táo tợn và sống động. Tôi chợt thấy bài Todo Todo Todo tôi nghe hôm đó hay hơn mọi ngày. Không hiểu lời, vì lời bằng tiếng Tây Ban Nha, nhưng tôi thấy dường như mình cảm nhận được những giai điệu rộn ràng ấy, dường như sắc thái của nhạc Cha Cha đang thể hiện qua những bước chân của tôi. Giá như chỉ có mình tôi trên đường, và tôi đi giày nhảy chứ không phải là đôi bốt nặng trịch thấm đẫm nước do tuyết tan – rất có thể tôi sẽ nhảy, nhảysolo hoặc với một partner tưởng tượng, nhảy một bài Cha Cha không theo rountine cố định, nhảy bất cứ bước nhảy nào hiện tới trong đầu, và chắc chắn là sẽ cực kì “đúng nhạc”.

Tôi nhớ đến DanceForever (cũng là một cái tên trên mạng, ai trong giới dancing hẳn là đã biết). Đó là tháng 5.2004, câu lạc bộ ODC. Có lần cô đến lớp học nhảy muộn, khi trong lớp đang mở nhạc Cha Cha (lại là Cha Cha). Cô đi từ nhà gửi xe vào lớp, tay khoác túi xách, vừa đi vừa đóng chân theo kĩ thuật Forward Lock Chasse, không phải trên đôi giày nhảy Latin cao 8 cm mà là đôi guốc không quai loẹt quẹt. Có sao đâu… chỉ cần cô đi đúng nhạc và dáng người chuyển động một cách đầy “nhạc cảm”. Có ai đó đã viết rất văn vẻ là: “Ở bất cứ nơi đâu, khi một âm thanh có giai điệu vang lên, trái tim sẽ reo vui, và một lễ hội sẽ diễn ra trong chính cơ thể: hồng cầu và bạch cầu ôm nhau quay Van, các nơ-ron thần kinh sẽ nắm tay nhảy rap…”. Tôi gạt qua những hiểu biết y học tối thiểu để tin vào điều đó, và thực sự thấy phấn khích khi đi bộ dọc sông Stockholm theo nhịp điệu của nhạc Cha Cha.

***

Gần hai năm nay, tôi chỉ nghe nhạc nhảy. Tôi nghe Slow Waltz hoặc Rumba trước khi đi ngủ, nghe Tango và Cha Cha vì sở thích, nghe nhạc Quickstep trên đường từ nhà đến trường vì coi đó là “nhịêm vụ” (tôi vẫn chưa nghe tốt cái thứ nhạc lắm kèn tò te như nhạc rạp xiếc này). Dĩ nhiên là đôi lúc cũng nghe những thể loại nhạc khác (Sao Mai chẳng hạn), và tôi thấy chúng không tệ. Tôi bắt đầu hiểu được tại sao người ta nói cô này hát hay, cô kia hát dở, người này có giọng mỏng còn người kia có độ sâu trong câu hát,… Tôi lờ mờ cảm thấy có sự tương đồng giữa kĩ thuật “nén bàn chân xuống mặt sàn tạo động lực cho bước nhảy” trong dancing với kĩ năng xử lý âm thanh của ca sĩ. Tất nhiên mớ lý thuyết ấy chẳng ý nghĩa gì chừng nào tôi vẫn chưa thể hát đúng nhạc. Nhưng ít nhất thì tôi cũng có được sự thưởng thức âm nhạc của riêng tôi, cho riêng bản thân tôi.

***

Thời gian gần đây, tôi có thói quen đếm mỗi tuần lễ trôi qua bằng những ngày thứ Ba và thứ Năm. Đó là những buổi tôi lên HYEC học – lớp của Pantherson. Tôi đến với HYEC trong một giai đoạn khó khăn và căng thẳng của bản thân (mỗi người chúng ta ai cũng có vài thời điểm stress như thế trong cuộc sống). Có lúc tôi đã nghĩ sẽ không đi nhảy nữa, vì nó gợi lại quá khứ, gợi lại những gì tươi đẹp, đáng nhớ và đáng quên,… Nhưng tôi không thể xa được các bước nhảy, không thể nghe La Cumparsita mà không thấy tim đập dồn dập theo nhịp điệu Staccato. Tôi lên HYEC và bị cuốn hút bởi không khí tập luyện hăng say trên đó. Tôi có nhiều người bạn mới, học được nhiều kĩ thuật khiêu vũ mới, tiếp xúc với nhiều bản nhạc thật hay,… Đôi khi đối diện với quá khứ lại là cách tốt nhất để xua nó đi.

Tôi yêu HYEC. Tôi thích lên tập 2-3 tiếng buổi tối sau một ngày đã ngồi 8h trước máy tính viết luận văn, tôi thích cảm giác vã mồ hôi đầm đìa sau 10 vòng thực hiện kĩ thuật Heel Turn, tôi vui khi buổi chiều về nhớ ra tối nay là ngày tập, tôi cảm thấy thân quen với quán nước mía cuối đường Bà Triệu, nơi HYEC thường tụ họp sau mỗi buổi tập. Tôi yêu những người bạn vui vẻ, nghịch ngợm, và giỏi giang trong câu lạc bộ. Dường như từ trước tới nay vẫn vậy, trong mắt tôi những người cùng lớp học nhảy luôn là “cao thủ”. Còn nhạc cảm của tôi thì thỉnh thoảng vẫn bị Pan chê là kém…

***

Tôi đang nghe bài Suona Chittara của Silvestrini – tôi thích nó kể từ lần nghe đầu tiên tháng 8.2003. Từ đó đến nay quá nhiều chuyện đã xảy ra, có những thứ đã mất đi và có nhiều điều vẫn còn mãi. Đây là một bản nhạc không lời, bản nhạc của sự cô độc với những nốt nhạc đơn điệu lặp đi lặp lại. Tempo quá chậm (có lẽ chỉ 20-22 nhịp/phút) để có thể nhảy Rumba, nhưng có những lúc chúng ta có thể nghe nhạc mà không cần phải nhảy. Tôi nghe để chìm trong tiếng nhạc dịu dàng sâu lắng, tôi nghe để hiểu thêm về sự cô đơn và chia cắt, để nhớ về quá khứ đã qua và những điều sắp đến, để lắng mình trong một góc nhỏ bé không ai biết tới,…

Những giai điệu êm ái đang trôi đi như một dòng chảy liên tục không có điểm dừng. Và chân tôi lại như muốn nhảy Rumba…

Tháng 8.2006