Một tấm ảnh kể chuyện

Dạo này lang thang các forum nhiếp ảnh, nghe được một câu khá hay, đại ý “Một tấm ảnh hay không nhất thiết là một tấm ảnh đẹp, nhưng nhất thiết phải là một bức hình biết kể chuyện”

Thế thì trong cái kho ảnh (mà phần lớn là chụp theo kiểu Point & Shoot không cần bận tâm đến ánh sáng hay kĩ thuật) của tôi, chắc cũng nhặt nhạnh được vài ba tấm ảnh “hay”. Ít nhất, “hay” với riêng bản thân tôi. Bởi mỗi lần lướt qua các bức hình mình chụp, tôi lại nhớ về một-chút-quá-khứ-đã-qua; như một người ngồi lên chiếc thuyền vượt thời gian để quay về tìm lại những dòng nước chảy dưới chân cầu…

* * *

Image

Đây là một tấm hình như thế. Thoạt đầu tôi không thể nhớ đã chụp trong hoàn cảnh nào, trước khi nhận ra tháp Effel nhìn từ đồi Montmartre.

Paris, mùa đông, tháng 2.2005. Những con phố dài và hẹp lát đá vàng, đá xanh. Paris không có tuyết phủ dày như Stockholm, và xen giữa những buổi sớm mai âm u se lạnh như tiết thu Hà Nội, vẫn là vài tiếng đồng hồ ngập tràn nắng ấm. Một buổi tối, khi cái lạnh quen thuộc của mùa đông quay về, bạn rủ tôi lên đồi Montmartre chơi. Chúng tôi xuôi theo một con phố nhỏ bán đầy tranh lưu niệm về Paris, men theo những vỉa hè tối tăm, cũ kĩ và ẩm ướt để thưởng thức cái gọi là “Kinh đô ánh sáng”. Từ chân đồi Montmartre nhìn về thành phố, thấy quán “Cối Xay Gió Đỏ” (Moulin Rouge) rực rỡ ánh đèn màu, kiêu sa và đài các. Tôi nhớ lại bộ phim cùng tên, với những cô đào xinh đẹp tuyệt trần cùng vài khúc nhạc nồng nàn quyến rũ, mới thử hỏi bạn xem có vào đó chơi được không. Bạn mỉm cười, “Moulin Rouge không tính tiền vé phụ nữ, còn đàn ông thì…”. Dù sao, như ai đó từng nói nhỉ, vẻ đẹp của Paris đâu thể khám phá chỉ trong vài ngày…

Có hai con đường lên đỉnh đổi Montmarte. Đường bộ quanh co, tối, lạnh (và hẳn là hết sức lãng mạn với một số người). Tối, lạnh thì chúng tôi không ngại, nhưng bạn nói con đường đó không an toàn, lơ ngơ gặp bọn “Rệp” (tiếng lóng chỉ dân nhập cư gốc Ả Rập ở Pháp, nói chung là tầng lớp chẳng hay ho gì) thì phiền lắm. Chúng tôi chọn thang máy (đúng hơn là cáp treo). Hiện đại hơn, an toàn hơn, ấm cúng hơn. Với lại, cũng chẳng có gì để mà “lãng mạn”…

Người ta hay kể về đồi Montmartre, với nhà thờ Sacré bằng đá trắng, với góc quán nhỏ nơi giới nghệ sĩ tụ tập, và những hoạ sĩ vẽ chân dung bên lề phố. Nhưng đó là chuyện của ban ngày và ánh nắng. Đêm xuống, Montmartre như một vườn hoa hay công viên, để các em nhỏ nô đùa bên bố mẹ, để những khách du lịch vác máy ảnh máy quay đi chơi “hóng gió”, để những người yêu nhau lên tình tự và những kẻ đắm say ngơ ngẩn tập làm thơ. Tôi chụp vài kiểu ảnh, mong ghi lại cái nhộn nhịp của một không gian thoáng đãng, hay cái hùng vĩ lãng mạn của Sacré. Tiếc là con máy IXUS 500 không hợp với chụp đêm vì gần như không cho phép thao tác nào khác ngoài chế độ “Fully Automatic” (đùa vậy thôi chứ hồi đó ngoài chụp Auto thì đâu biết làm gì?). Chất lượng ảnh tệ hại khiến tôi nản chí. Chúng tôi đi vòng quanh nhà thờ, cố ngó nghiêng tìm ra một điều gì thú vị. Bạn an ủi “Thôi buổi sáng hôm sau tớ dắt Bụ lên đây chơi”. Ah tiếc nhỉ, đã đi cả quãng đường dài như thế, chỉ để hóng mát và ngắm bầu trời đêm Paris đen đặc thôi sao?

Chợt mắt bạn sáng lên khi nhìn về Paris, Paris rộng lớn với những ánh đèn trắng đỏ vàng lấp lánh trong đêm, trải ra ngút ngàn tầm mắt. Bạn bảo, sắp đến 22h, và tháp Effel sẽ sáng lên trong vài phút, sẽ là một khung cảnh cực kì rực rỡ mà chúng ta không nên bỏ phí. Thế là bạn và tôi, hì hục chạy loanh quanh, tìm một chỗ đứng khả dĩ không bị che chắn tầm mắt bởi đám đông khách du lịch có chiều cao trung bình trên 1m80. Chúng tôi vòng ra mặt sau nhà thờ (hình như thế thì phải), nơi ánh đèn không chiếu tới và chỉ có những ô lưới thép dựng trên ban công, ngăn không cho vài chú nhóc hiếu kì nghịch ngợm ngã xuống núi. Tôi vừa kịp dừng lại thì đã nghe bạn gọi. Theo hướng tay bạn trỏ, trong màn đêm lạnh lẽo, biểu tượng của Paris đang sáng lên, rực rỡ như một ngọn đuốc cháy lấp lánh. Đấy, chính nó, “thần tượng” của bạn tôi và không biết bao nhiêu người nữa (đến nỗi mỗi sáng đi học, bạn đều cố chọn tuyến tàu điện ngầm qua ga Chámp Elysee để có thể ngắm được Effel). Với mỗi người dân Paris, có thể cái khung cảnh lặp đi lặp lại mỗi ngày ấy chẳng có gì thú vị. Nhưng với tôi, đứng lặng yên trong cái gió mùa đông, trong cái tối của một đêm tháng 2, trong cái lạnh của đỉnh đồi Montmartre, hình ảnh tháp Effel chiếu đèn rọi quanh Paris như ngọn hải đăng chợt mang một vẻ đẹp lung linh huyền ảo. Chúng tôi áp mặt vào khung lưới sắt, nhìn không chớp mắt. Tôi bấm vội vài kiểu ảnh, rồi cũng chả kịp ngó lại. Tôi sợ rằng nếu tôi quá chăm chú vào màn hình LCD, thì khi ngước mắt lên, cái ánh lộng lẫy kia đã tắt mất rồi và tất cả sẽ lại chìm vào bóng đen…

Tôi không nhớ rõ lắm khoảng thời gian ấy, có những lúc 1 phút chỉ dài bằng 1 giây, và cảm xúc đọng lại đầy tràn như catecholamine đang chảy trong huyết quản. Nhưng khi đèn tắt, chúng tôi chẳng còn gì để lưu luyến Montmartre nữa cả. Ra về thôi, muộn quá rồi, lỡ tàu điện ngầm thì phiền lắm. Còn Sacré, còn những hoạ sĩ vẽ chân dung, còn những kiểu ảnh ban ngày chụp bằng IXUS 500 (mà hẳn là chế độ đo sáng Auto White Balance sẽ rất tuyệt vời trong điều kiện nắng đẹp),… để hôm khác đi. May mà có cáp treo, đi xuống cho nhanh.

Tôi có nhiều kiểu ảnh chụp tháp Effel. Chụp từ con đường dọc sông Seine, chụp từ nhà ga Saint Michel, từ bảo tàng Invalide, từ điện Pantheon, và tất nhiên là cả từ quảng trường Trocadego (một ban công rộng rãi để ngắm nhìn toàn cảnh, với bệ chắn không quá cao cho phép người ta có thể leo lên và cảm thấy mình đang đứng ngang hàng với Effel qua kính ngắm máy ảnh). Trong những ngày lang thang “Under the Paris Skies”, tôi cảm giác như từ góc nào của Paris cũng có thể nhìn thấy Effel. Nhưng dù thế nào, tôi vẫn thích tấm ảnh chụp trên đồi Montmartre nhất. Có ánh xanh của khung thép chắn, có đèn vàng của những căn hộ lưng chừng đồi, và có cả Paris đang im lặng làm nền cho một vẻ đẹp lộng lẫy khó diễn tả bằng lời.

* * *

Chắc bạn không nỡ chê tôi chụp xấu, nhưng bạn có thể bảo là “Bức ảnh này thú vị đấy, nhưng chẳng lẽ nó đáng để viết một blog entry dài 4500 chữ hay sao?” Ah, tôi không rõ lắm. Với tôi, nó là một tấm ảnh biết kể chuyện, và những câu chuyện thì đôi khi dài ngắn vô hạn định. Nó gợi lại cho tôi những kỉ niệm của một buổi tối vui vẻ và thân ái (mà lúc về tôi đã ghé của hàng lưu niệm mua 2 bức tranh tháp Effel), vậy thôi. Còn nếu bạn muốn biết thêm về mùa đông Paris, về một Paris nồng nàn và say đắm như bạn vẫn nghe, sẽ còn nhiều bức ảnh khác nữa (tấm hình này chẳng hạn, tôi cũng rất thích). Nhưng đó lại là một “câu chuyện” khác mất rồi. Lần sau nhé…

Tháng 5.2007

Quán cơm Bà Béo

Đợt vừa rồi, vì lý do học thi nội trú, tôi có khoảng hơn một tháng ăn trưa (và nhiều khi ăn tối nữa) ở một quán cơm bụi trong trường, gần khu E3, E4.

Nơi tôi hay ăn được biết đến với một tên gọi hết sức phổ thông và dễ nhớ: “quán Bà Béo” (trên đời này có biết bao nhiêu “quán Bà Béo”, nhưng trong trường Y chỉ có một). Hầu hết những kẻ mắc hội chứng ÔTNT trầm trọng đều chọn ăn ở đây. Chúng tôi suốt ngày chạm mặt nhau trên giảng đường, trong thư viện, trong quán nước, nên cũng chẳng ngạc nhiên khi đến giờ ăn trưa lại ngồi chung một bàn, hoặc trò chuyện với từ bàn này qua bàn khác. Cái viễn cảnh khoác áo blouse trắng (thường là phanh ngực “cho oai”) ra căng-tin bệnh viện, vừa ăn vừa thảo luận về những ca bệnh khó xem ra có vẻ khá hấp dẫn và “pro”. Nhưng trước đó, cần phải trải qua những ngày ăn trưa trong cái quán chật chội này, với các chủ đề kém thi vị hơn rất nhiều như: “Học Giải phẫu dài và khó quá!”, “Phần biến chứng của nhồi máu cơ tim có phải nêu mục X, Y, Z không nhỉ?”, “Nào, tranh thủ vừa ăn vừa ôn lại ‘Chỉ định và chống chỉ định của thuốc tránh thai’ ”.

Thực ra, trường Y có truyền thống “ăn cơm theo khoá học”. Những quán ăn khu E4 vốn dành cho dân sau đại học. Còn mấy quán sát kí túc E2 là của hội sinh viên Y2, Y3. Mấy nơi này hay có trò đun nước sôi đặt phía dưới đĩa thức ăn, nhìn ngoài bốc hơi nghi ngút, gọi ăn mới thấy lạnh ngắc ngư. Dù sao vẫn khá hơn nhà ăn sinh viên – căngtin chính thức của trường – nơi thức ăn vừa nguội vừa đắt. Chỗ đấy là dành riêng cho mấy cô chú “Y muỗi” lơ ngơ mới nhập học.

Có thể đồ ăn ở quán Bà Béo nóng hơn, ngon hơn; hoặc đơn giản chỉ do thói quen, mà tụi tôi hầu như không mò vào các quán khác. Qui trình lấy cơm ở đây khá nhanh gọn. Chỉ cần cười chào bà Béo một câu, chỉ trỏ vài món ăn, bê lấy bát canh, và tất nhiên – giả tiền. Dân tình thường gọi khá nhiều thịt, cá, trứng; có lẽ do chưa quen đọc vẹt mấy guideline của WHO về phòng và điều trị bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, suy thận… Lũ chúng tôi thì khác, nện vào rất nhiều rau củ quả (nhất là đậu cô-ve), và luôn cố gắng tuân thủ đúng ô vuông dinh dưỡng của cuốn “Bài giảng Nhi khoa”.

Đó là những ngày dài và căng thẳng, khi thời gian biểu được sắp xếp chi li đến từng … 15 phút. Giờ ăn trưa bỗng trở thành khoảng thời gian thư giãn hiếm hoi không bị đè nặng “mặc cảm tội lỗi”. Nghĩa là cậu Huy kủng bạn tôi có thể thoải mái kể chuyện mấy em Y bé quen trên giảng đường (Luna chẳng hạn), Minh béo có thể nói về em Chai-kô, người-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy. Còn tôi thừa thời gian để mỗi hôm thủng thẳng vài câu “Kiều” (chắc là rất được hâm mộ) “Ba năm trong cõi Sản khoa/ Những điều trông thấy mà kinh đến già/ Rằng ngày mùng 8 tháng 3/ Thuý Kiều đi khám Sản khoa lần đầu/ Lý do bụng dưới quặn đau/ Mà da niêm mạc có màu xanh xao…”. Mấy ông bạn khoái chí, hôm nào cũng lẩm nhẩm ngâm nga, chăm hơn học thi. Mà nhớ thêm 50 câu Kiều (lại là những câu hay) thì có hại gì, chí ít học bài “Chảy máu Sản khoa” cũng đỡ nhọc nhằn hơn một chút.

Tôi nhớ Điền “thăng”, ôn thi nội trú Chẩn đoán hình ảnh, có giao ước là mỗi hôm đi ăn cùng nhau thì tôi phải đọc cho cậu ta một “câu tủ” về chuyên ngành Ngoại-Sản. Tôi học Nội, chẳng biết đề cương ôn Ngoại có những mục nào, nhưng cứ phán bừa. Hôm thì “Thoát vị bẹn”, hôm lại “Thai chết lưu” hay “Vết thương mạch máu”. Cuối cùng đến hôm thi trúng được câu Giải phẫu “Vẽ thiết đồ ống bẹn” thì phải, còn lại chệch toàn phần. Không biết kết quả thi của Điền ra sao, đặc biệt thấy hơi hồi hộp. Mà nói vậy thôi, chứ thi Nội trú là việc quan trọng cả đời. Trừ những thằng cùng quẫn, đố đứa nào dám học tủ!

Tôi nhớ Huy kủng hay vừa ăn vừa kể chuyện (một cách hết sức có duyên) về những “va chạm nghề nghiệp” mà cậu ta từng gặp. Nói chung, buổi ăn trưa là một dịp hay để ôn lại quãng đời sinh viên học lâm sàng của mình, để nhớ về những buổi giao ban giảng đường C, về phòng mổ Việt Đức, hay kể lại câu chuyện một cô bé bị kim găm trong lớp mỡ dưới da dày quá các bác sĩ tìm không thấy, vv và vv… Chính từ những giờ phút nói cười thoải mái ấy, bao nhiêu giai thoại đã ra đời (chuyện về CIDS chẳng hạn). Những giai thoại trường Y tuyệt vời ở chỗ nó độc đáo và không dễ quên. Nó đi từ bệnh viện ra giảng đường, rồi vào quán nước, quán cơm. Nó lưu truyền trong các thế hệ sinh viên như một thứ “Tịch Tà kiếm phổ” mà lũ Y bé luôn thấy hấp dẫn và khao khát được thưởng thức.

Thế là một tuần đã trôi qua. Khi ta lỏng dây cương thì thời gian đi rất nhanh. Đã 1 tuần không đến quán ăn Bà Béo, cảm giác như mình không còn thuộc về những ngày ôn thi nội trú nữa. Quán ăn Bà Béo chắc vẫn đông, nhưng “giờ cao điểm” lúc 11h30 thì sẽ vắng hơn một chút. Chỉ 10 ngày nữa thôi, kết quả thi sẽ dán kín một góc tầng 3 nhà A1, không hiểu “bà Béo” có nằm trong số đám đông tò mò chạy lên xem điểm không nhỉ.

Tháng 1.2007

Gửi em

Em thân yêu,

Thế là ngày mai em đi lấy chồng. Anh tự hỏi những ngày sau đấy anh sẽ như thế nào. Tình hình xem ra khá là bi đát.

Anh sẽ không còn được chui vào nhà em buôn chuyện (chà, anh nhớ cái khu tập thể đấy, mỗi lần anh phóng xe vào luôn là một dịp tuyệt vời để mấy cụ già chép miệng và con chó ngu xuẩn cạnh nhà em sủa lên inh ỏi như chưa bao giờ được sủa). Buôn chuyện là một thói quen tốt, nó giúp anh thư giãn về tinh thần và mạnh mẽ hơn về thể chất; bởi vì đôi khi em lại đem kem, sữa chua ra mời anh (còn nếu em không mời thì anh sẽ hiểu em đã ra tín hiệu “Hãy ăn bánh ngọt đi!”, anh chỉ việc lấy bánh ngọt trong hộp, đơn giản vậy thôi).

Anh không thể đến nhà em “học nhóm” được nữa, dù rằng sự chăm chỉ gạo bài của chúng ta đôi khi hơi thái quá (ý anh muốn nhắc đến cái lần học Sinh lý năm Y2 tới gần nửa đêm, và buổi “ôn tập” Nhi vô cùng hoành tráng gần đây, hình như cũng quá 11h30 thì phải). Chúng ta đã cùng đọc như vẹt những dòng ngồn ngộn chữ của môn Tâm lý Y học, hoặc nhồi nhét mấy công thức Dược lý đủ để làm em “shock phản vệ”. Rồi còn cùng nhau “chia sẻ” những áng văn bất hủ của môn Triết nữa chứ (chắc em vẫn nhớ thế nào là “chia sẻ”, phải không?) Tất nhiên, thời gian học luôn luôn ít ỏi so với thời gian chat-chit hay ăn uống, nhưng mà anh với em vẫn là những học trò ngoan, thật thế!

Anh bắt đầu thấy nhớ lũ chó, mèo, gấu nhà em. Mỗi lần gặp anh, em đều bắt chúng chào anh theo cái cách (mà em cho là) hết sức dễ thương. Anh thì không thấy thế, và anh luôn sẵn sàng chà đạp lũ thú cưng đấy mỗi khi có thể – dù rằng chúng chỉ là thú nhồi bông thôi. Ngày mai, em sẽ bê tất cả lũ chúng nó về nhà chồng, bày trong tủ kính hoặc vứt lăn lóc trên đệm; để chồng em ngắm chúng, và bắt chồng em phải chào chúng. Ngay lúc này đây anh có thể tưởng tượng ra vẻ mặt ngán ngẩm của chồng em khi đó (anh ý có rất nhiều điểm giống anh, thật thế!)

Anh không biết mỗi khi có chuyện “thú vị” cần chia sẻ, anh sẽ tìm đến ai, em yêu quí ạ. Anh nhớ những buổi chiều anh đến chỉ để khoe em một vài tin tức “hot”, anh nhớ buổi sáng thi Đại học năm 2002, anh qua nhà em để kể nỗi lo lắng về cái đề thi Sinh củ chuối. Anh nhớ những lúc đến nhà em chỉ để nghe em vỗ về, vì em có thể đọc được trong mắt anh những điều anh chưa cần nói.

Có quá nhiều chuyện để anh nhớ, thật thế!

Tất nhiên là anh biết nhà chồng em (mà từ mai đó sẽ là nhà em). Nhưng anh hình dung ra một viễn cảnh không tươi sáng lắm khi anh vào nhà em, lấy bánh ngọt trong tủ, trêu lũ thú cưng của em. Trong lúc anh đang say sưa ăn uống và chat-chit thì chồng em (cũng say sưa chẳng kém) nói về lẩu lòng, HIV, hay Cytomega virus,… Đúng lúc đó mẹ chồng em xuất hiện, theo sau là … bà nội em. Em sẽ đóng vai nàng Li-Dơ ngồi khóc thút thít vì oan ức, chồng em đương nhiên là hoàng tử. Còn anh, còn vai diễn nào nữa đây ngoài mụ phù thuỷ độc ác và nham hiểm, giơ đầu ra chịu sự chà đạp (vì độc ác mà!) Nghiệt ngã quá, thật thế!

Tóm lại anh rất chi là buồn.

Và anh biết có những người còn buồn hơn anh.

Cả con chó Mập nhà hàng xóm nữa, nó chắc cũng sẽ buồn.

Nhưng mà anh biết em sẽ rất vui.

Em sẽ cười thật xinh (giống như mấy phim Hàn Quốc mà em vô cùng hâm mộ ấy). Có thể là sẽ khóc một chút xíu (ai mà biết), nhưng rồi cuối cùng em sẽ vẫn cười, vì chồng em sẽ làm em hạnh phúc, vì mẹ chồng em thật là dễ thương và bố chồng em thì coi em như con đẻ từ lâu lâu rồi.

Chúc em luôn vui mãi!

Yêu em rất nhiều!

Tháng 1.2007