Nghề Y sướng hay khổ?

Nói chung, chúng ta – những kẻ tự nhận là yêu nghề và làm nghề chân chính – vẫn luôn miệng kêu nghề Y khổ. Điều này bắt nguồn từ hiện thực khách quan (áp lực công việc, mức đãi ngộ, thời gian và cơ hội mất mát, bị gièm pha này nọ…) nên ít người phản đối.

Tuy nhiên, nghĩ kỹ, cũng không khổ đến thế.

Tớ thử liệt kê vài lý do “tự sướng”.

1. Tuổi nghề dài

Luận điểm quen thuộc nhất là “Bằng giờ này bạn bè đã có nhà lầu xe hơi rồi!” Tớ không phủ nhận, học nội trú đồng nghĩa với đến gần 30 mới tự nuôi được bản thân. Nhưng tuổi thọ của nghề Y lại dài hơn hẳn. Cầu thủ bóng đá và ca-ve giải nghệ sau tuổi 30. Ca sĩ giảm chạy sô sau tuổi 50. Quan chức về vườn sau tuổi 60. Còn mấy ông bác sỹ cứ như giống hoa lan nở muộn lâu tàn, đến ngoài 70 vẫn sống tốt. Tự cổ chí kim, đó là chân lý. Dù rằng vào tuổi 70, đồng tiền kiếm được có lẽ không nhiều giá trị với bản thân như đồng tiền ở tuổi 30. Nhưng ít nhất, chúng ta sẽ không sợ “về hưu”.

2. Sức khoẻ được đảm bảo

Sống ở Việt Nam rất nhục!!! (Vâng, đúng thế). Cái gì không thuộc chuyên môn của mình là có nguy cơ bị lừa rất cao (động từ này hơi nhẹ). Cụ thể: đi chợ thì bị “bóp”, gửi xe máy thì bị “chém”, oánh phỏm thì bị “thịt”, lo thủ tục hành chính thì bị “hành”, vv và vv… Các thầy thuốc nhà ta có thể yên tâm, dù ngày ngày vẫn đối mặt với nguy cơ bị cảnh sát giao thông chặn đường thu tiền vô lối, dù mỗi dịp thu về vẫn phải đạp cổng trường nộp đơn xin học cho con,… thì khi ốm đau bệnh tật, chúng ta và người thân đàng hoàng có cơ hội được hưởng chất lượng chăm sóc tối ưu nhất trong phạm vi tài chính của bản thân và năng lực của nền y tế nước nhà. Mà sức khoẻ là quan trọng nhất, bao giờ chả thế, mãi mãi như thế!

3. Sự ổn định của thu nhập

Trong môi trường mà ba cách làm giàu nhanh nhất là “tham nhũng”, “buôn lậu” và “đầu cơ”, hiển nhiên bác sỹ làm giàu không dễ. Nhưng tớ tin không bác sỹ nào chết đói cả. Thời buổi khủng hoảng này, kiếm tiền tậu nhà, mua ôtô, đánh “gôn” thì khó; chứ để mua cái máy ảnh bèo, mua điện thoại lướt Phây-búc, mua giấy gấp origami, đi hát và thu âm giọng hát, hay cà phê chém gió thì dư sức. Hệ thống ngân hàng có thể sụp đổ, bong bóng bất động sản sẽ vỡ hoặc không, giá xăng giảm và giá điện tăng,… thầy thuốc nhà ta vẫn ung dung làm việc trong ốc đảo bệnh viện của mình, với thu nhập không lên xuống thất thường như chỉ số chứng khoán. Còn tại sao một người học hành 10 năm – trong đó 4 năm cuối làm việc trung bình 10-14 giờ một ngày, 6-7 ngày trong tuần – lại chỉ có đồng lương bằng một người học 4 năm nhàn nhã, thì không phải là điều nên thắc mắc.

4. Vầng hào quang vẫn luôn luôn toả sáng lung linh

Đó là một ảo giác khó diễn tả bằng lời. Nó đến từ những quan niệm rất đẹp của xã hội Việt Nam về người thầy thuốc, hay từ những hình ảnh hoành tráng trong bộ phim“Anh em nhà bác sỹ”. Khi tự giới thiệu mình học Y, 95% trường hợp bạn sẽ nhận được lời hỏi thăm thân thiện và ánh nhìn trìu mến. Bất chấp tất cả hiện thực phũ phàng, bất chấp bao nhiêu phàn nàn ném đá trên Vnexpress, điểm thi vào trường Y vẫn luôn cao nhất nhì cả nước. Còn nữa, với mặc định nền tảng kiến thức xã hội cực thấp “sáu năm biết mấy kỳ thi, tốt nghiệp đại học còn gì là xuân!”, bạn dường như dễ được cộng đồng ưu ái hơn. “Nhà báo viết blog thì nói làm gì, bác sỹ viết blog mới thật là một bất ngờ nho nhỏ đáng yêu” (hoặc “Không thể ngờ bác sỹ mà lại có cảm xúc như thế”, “Ai bảo bác sỹ chỉ chúi đầu vào bệnh viện nào?”, “Bác sỹ mà cũng biết chụp ảnh hay làm việc này việc nọ”… vv và vv) Dù xã hội đôi khi đánh đập tơi bời, nhìn chung nó vẫn dành cho các thầy thuốc nhà ta rất nhiều ve vuốt ngọt ngào. Dẫu nói một cách chân thành, sau mỗi đêm trực, khi môi khô khốc và lòng trống rỗng, những kẻ trong nghề chẳng bao giờ nhớ tới sự vuốt ve ấy, mà chỉ muốn … về nhà đi ngủ.

Trên đây là vài dòng biện luận xa rời thực tế. Còn bạn nào muốn tìm hiểu thực tế nghề Y, xin tìm đọc “Chuyện tôi tình tôi”, giai phẩm ăn khách nhất mùa hạ 2012, do một đồng nghiệp của tớ viết.

Tháng 7.2012

Việc học lâm sàng của sinh viên

Tuần vừa rồi một em sinh viên Y6 đi học lâm sàng tại khoa mình. Em muốn học, chăm chỉ, biết đọc sách, mình cũng cố gắng tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để sinh viên học. Nhưng chẳng biết sau một tuần vất vả có học được gì không. Thay vì đổ lỗi cho cơ chế, mình thử nghĩ một số giải pháp giúp các bạn sinh viên học lâm sàng hiệu quả hơn.

1. Đọc sách

Đọc sách trước rất quan trọng. Nó giúp chúng ta tự tin và hứng thú hơn với chuyên khoa sắp tới. Tốt nhất là đọc ở Medscape, eMedicine, hay Uptodate, vì thông tin rõ ràng và thiết thực. Nếu không biết đến mấy cái kia thì có thể đọc sách giáo khoa (Triệu chứng học, Bệnh học, Điều trị) hoặc tài liệu tham khảo chuyên ngành. Mỗi khoa thường có một quyển chuyên ngành, như khoa Thận là cuốn “Bệnh thận nội khoa”, Tim mạch là “Thực hành bệnh tim mạch”,… Những sách này gần tương tự sách giáo khoa, nhưng cập nhật hơn. Một ngày chủ nhật trước tuần mới dành để đọc sách là đủ. Ngoài ra trong tuần đọc thêm các vấn đề phát sinh. Đọc nhiều thì kỹ năng đọc sẽ tiến bộ, dần dần việc đọc trở nên dễ dàng hơn, tốn ít thời gian hơn.

2. Đề ra mục tiêu cần đạt

Alice nói chuyện với con mèo: “Chỉ đường cho tôi” – “Cô định đi đâu?” – “Tôi đến đâu cũng được” – “Thế thì cô đi đường nào chẳng được, như nhau cả thôi!” (Alice in Wonderland)

Trước mỗi khoa nên đề ra mục tiêu cần đạt, gồm mục tiêu về kiến thức và mục tiêu về kỹ năng.

a. Mục tiêu về kiến thức: nên thiết thực, bám sát nội dung thi và bám sát thực tế lâm sàng

VD: mục tiêu học tập của Y4 khi đi Tim mạch là tăng huyết áp, bệnh van tim, suy tim. Sau một tuần phải nắm được các vấn đề đó. Ngoài ra có thể có: bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não,…

Xây dựng mục tiêu kiến thức dựa trên (i) yêu cầu của giảng viên bộ môn, (ii) lời khuyên của những người đi trước (bác sỹ, nội trú, y lớn), (iii) những gì thu lượm được khi đọc sách, (iv) trải nghiệm (ít ỏi) của bản thân.

b. Mục tiêu về kỹ năng: nên rõ ràng và có tính định lượng

VD: “khám bệnh nhân bệnh van tim” là một mục tiêu không rõ ràng.

Mục tiêu kỹ năng có thể là: mắc được điện tâm đồ, mắc được máy khí dung, làm được 3 bệnh án, nghe được 6 tiếng thổi tâm thu, sờ được 4 cái lách to, nghe được 1 tiếng thổi động mạch cảnh, sờ được 1 lần dấu hiệu “bập bềnh xương bánh chè”, quan sát được 1 ca cấp cứu ngừng tuần hoàn,…

Mục tiêu về kiến thức giúp chúng ta thi tốt, và sau này hành nghề tốt. Mục tiêu về kĩ năng, ngoài vai trò đó, còn giúp người sinh viên không trở nên vô dụng trong những đêm trực. Y tá học sinh cũng là học viên, kiến thức, thái độ còn kém hơn sinh viên Y nhiều; nhưng vì có kỹ năng, nên không vô dụng.

Khi đã có mục tiêu cần đạt thì bằng mọi giá phải thực hiện được mục tiêu đó, không bị lôi kéo theo đám đông (trừ lúc kéo nhau đi nghe giảng lâm sàng). Theo đuổi mục tiêu thì cũng đỡ phải khoanh tay đứng ở hành lang, rất vô vị và mệt mỏi.

3. Làm bệnh án

Muốn làm được bệnh án tốt, điều kiện cần là: (i) khám bệnh nhân kỹ càng, (ii) đọc sách về bệnh của bệnh nhân, (iii) có tư duy rõ ràng và mạch lạc.

Tư duy rõ ràng mạch lạc không chỉ cần thiết cho sinh viên mà còn cho mọi nhân viên y tế. Điều này đòi hỏi kỹ năng được rèn luyện.

Một số kỹ năng để làm bệnh án tốt:

  • Mục đích của bệnh án là đưa ra chẩn đoán và hướng điều trị. Mọi dòng chữ không phục vụ mục đích này đều bị coi là thừa thãi.
  • Chẩn đoán của sinh viên không nhất thiết phải luôn phù hợp với chẩn đoán của bệnh phòng. Điều quan trọng là nó dựa trên cơ sở lập luận rõ ràng, qua các thông tin thu được từ hỏi bệnh, thăm khám.
  • Không cần quá trau chuốt về ngôn từ.
  • Cuối cùng, tưởng tượng mình chỉ được trình bày bệnh án trong 10 câu, khi đó sẽ bỏ câu nào và giữ lại câu nào. Chắc chắn những thông tin như “tuyến giáp không to, hạch ngoại biên không sờ thấy, tim đều, phổi rì rào phế nang rõ, không rale, bụng mềm gan lách không sờ thấy”… sẽ bị lược bỏ. “Tóm tắt bệnh án” không phải là đọc một khung có sẵn mà là “trình bày những thông tin cần thiết nhất với số chữ ít nhất”.

Với mỗi bệnh trong mục tiêu kiến thức, cố gắng làm một bệnh án. Khi đã đọc sách trước thì thời gian dành cho một bệnh án chỉ cần 30-60 phút.

4. Học được mà không tốn quá nhiều thời gian

Giờ cao điểm thì hay tắc đường, mất nhiều thời gian để đi đến đích. Nếu bạn sinh viên thực sự muốn tham khảo bệnh án hay khám một bệnh nhân thú vị, kiểu gì cũng có cách. Tránh việc phải “xếp hàng”, vừa tốn công, vừa có nguy cơ “bị đuổi”.

Những thời điểm thuận lợi cho việc tự học lâm sàng là:

  • Buổi sáng trước giờ giao ban (từ 7h-7h30). Khi đó bệnh nhân khá thoải mái, bệnh án luôn sẵn sàng
  • Buổi chiều tầm 3-5 giờ chiều, sau khi người bệnh ngủ dậy và trước lúc họ ăn tối
  • Buổi tối là thời điểm tốt để ôn lại bài giảng ban ngày và khám bệnh nhân mới, sau đó đối chiếu với phần khám của bác sỹ

5. Không trở thành người thừa trong bệnh phòng

Một sinh viên bị coi là người thừa trong bệnh phòng là sinh viên:

  • Ngồi trong phòng hành chính lấy hết chỗ của bác sỹ và y tá
  • Có thái độ hờ hững khi mọi người đang bận rộn, lo lắng, cấp cứu bệnh nhân
  • Mượn bệnh án để xem trong khi mọi người đang bận rộn
  • Trả lời người bệnh một cách thờ ơ, coi như đây không phải việc của mình
  • Cười đùa vô ý thức (ở bất cứ đâu)

Ngoài ra, nếu tham gia thêm các công việc của bệnh phòng (đo huyết áp, theo dõi bệnh nhân, chép thuốc, ghi xét nghiệm…) thì càng được hoan nghênh. Tuy nhiên điều quan trọng là phải thực hiện được mục tiêu cần đạt của mình.

Trên đây là vài suy nghĩ nhỏ, mình viết với tư cách một người trước đây không lâu còn là sinh viên (cũng muốn học nhưng vẫn hay đút tay vào túi áo lang thang vô bổ), bây giờ làm bác sỹ điều trị, cũng  thỉnh thoảng được phân công đi giảng sinh viên và đi hỏi thi lâm sàng. Hy vọng có ích.

Tháng 2.2012

Đinh Linh

 

Âm thanh của C3

Phòng cấp cứu tim mạch C3. Một trong những đêm trực cọc ba cuối cùng. Tôi dậy khám bệnh nhân và khi về giường không muốn ngủ tiếp nữa. 4 giờ 30 sáng, tôi nằm yên lắng nghe những âm thanh của C3.

Bạn có nghĩ rằng mỗi khoa phòng trong bệnh viện đều có điểm đặc trưng hay không, tựa như mỗi người  chúng ta có một “cá tính riêng”? Rất khó mô tả “cá tính” ấy, chỉ biết rằng với những bệnh phòng “cá tính” mạnh, ngay khi bạn bước chân vào, thì mọi thứ thuộc về bệnh phòng ấy sẽ đồng thời ập đến với bạn trong chưa đầy 10 giây đồng hồ. Tất cả thấm vào từng giác quan, len lỏi vào bộ não bạn, tác động đến suy nghĩ của bạn, khiến bạn dù nhắm mắt vẫn biết được mình đang ở đâu. Tôi nhớ khoa điều trị tích cực (ICU) ở Bạch Mai, với những tiếng “tít tít” của máy thở đã đi vào giấc mơ của tôi trong các đêm trực thời sinh viên. Bây giờ khi xem T.V, nghe tiếng “tít tít” quen thuộc ấy, là tôi biết ngay truyền hình đang chiếu về khoa ICU. Tôi nhớ phòng khám cấp cứu ngoại Việt Đức, với mùi vị không thể nhầm lẫn của phòng lưu; nó là hỗn hợp của mùi máu, mùi xăng dầu, mùi đất cát dính trên người bệnh nhân tai nạn giao thông, và mùi mồ hôi của gần 1000 con người vào ra mỗi ngày (tính cả nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà). Tôi nhớ cả khoa sơ sinh ở viện Nhi Trung ương, với tiếng máy lạnh chạy ro ro, tiếng bước chân của các chị y tá thoăn thoắt mà không ồn ào, cùng tiếng trẻ sơ sinh oe oe nhè nhẹ trong từng lồng kính chiếu ánh sáng trắng vàng,…

Thế vào lúc 4 giờ 30 sáng, bạn có thể cảm nhận được gì từ “cá tính” của nơi mình đã gắn bó hơn 100 buổi trực? Đêm khuya tĩnh lặng, tôi nghe từng âm thanh riêng lẻ, hình dung nó phát ra từ đâu, hình dung ra cả bệnh nhân đang nằm cạnh đó.

Đầu tiên là những tiếng tít kéo dài của bơm tiêm điện báo sắp hết thuốc, có lẽ phát ra từ giường số 3, nơi một bệnh nhân được truyền dobutamine ngày này qua ngày khác. Chị y tá dường như cũng đã nghe thấy tiếng tít ấy – một âm thanh chẳng dễ chịu với chị chút nào. Lát nữa thôi chị sẽ ngao ngán ra thay thuốc và tự hỏi bao giờ thì quy trình truyền thuốc – hết thuốc – thay thuốc này mới kết thúc. Khi người bệnh ra viện, hay khi người bệnh tử vong?

Một âm thanh khác, đều đều buồn tẻ, là tiếng “tíc tíc” của máy monitor theo dõi. Máy khá mới (so với những thiết bị khác của C3), nhưng đã kịp mắc một bệnh mạn tính là luôn luôn bị nhiễu khi cắm điện. Muốn tìm sóng P trên monitor, muốn phân tích cơn tim nhanh là nhanh thất hay nhanh trên thất, muốn tìm hiểu những sóng kì quái xuất hiện trên màn hình là do nhiễu hay do … rung thất,… chỉ có cách duy nhất là rút phích cắm ra để máy chạy bằng pin. Tuy nhiên, điều quan trọng là máy vẫn sốc điện tốt. Trong đêm trực này, tôi đã sốc điện hai lần cho bệnh nhân rối loạn nhịp thất giường số 14. Người bệnh đang được truyền duy trì amiodarone. Tiếng “tíc tíc” đều đều cho biết nhịp tim của ông vẫn ổn.

Máy móc của C3 rất dễ kêu, vì một nguyên nhân nào đó. Máy thở của bệnh nhân giường số 7 đang phát ra những chuỗi “tít tít tít te” tẻ ngắt. Suốt buổi tối, tôi đã cố gắng tắt âm thanh đó đi mà không được. Có thể đường ống dẫn khí bị rò, có thể bộ phận làm ẩm bị hỏng, có thể tôi không biết cách cài đặt thông số hợp lý. Dù sao thì bệnh nhân vẫn nằm yên. Đã thở máy hơn 2 tuần, đã thử rút ống rồi phải đặt ống lại, đã mở khí quản, dường như người bệnh (Glassgow 14 điểm) tạm hài lòng với chiếc máy cùng các âm thanh đã trở thành quen thuộc kia. Chỉ có thầy thuốc là bất lực.

Tôi nghe tiếng lăn trở của những bệnh nhân khó ngủ. Âm thanh rất gần, chắc phát ra từ giường 21, nơi hai bệnh nhân già đang nằm “úp thìa” trong đống ngổn ngang chăn bông và gối. Một bệnh nhân phình tách động mạch chủ ngực, đã được truyền 3g Perfalgan chỉ trong ngày hôm nay. Có thể chỉ ít phút nữa thôi, sẽ xuất hiện âm thanh tôi không muốn nghe, tiếng rên vì đau của người bệnh. Cùng với đó là tiếng vỗ nhè nhẹ của bà vợ lên ngực bệnh nhân – tiếng vỗ mà chúng ta “cảm nhận” nhiều hơn là “nghe thấy”.

Còn gì nữa? Đêm nay chắc phòng khám cấp cứu ít bệnh nhân, nên tôi không được nghe tiếng xe điện chuyển bệnh nhân từ khoa A9 vào. Có lần nội trú đã bình bầu đấy là âm thanh đáng sợ nhất trong mỗi đêm trực. Nó đến vào lúc nửa đêm, khi mờ sáng, giữa lúc bạn đang mệt mỏi nhất, không muốn làm việc nhất. Mắt díp lại, nhịp tim chậm, hoạt động trao đổi chất ở mức tối thiểu… Mặc kệ thôi, sớm muộn gì thì bạn cũng phải lồm cồm bò dậy, bởi sau tiếng xe điện sẽ là tiếng lách cách của cáng chạy trên nền gạch, cùng với hàng loạt âm thanh nhốn nháo khác mà phòng khám “nhân tiện” chuyển vào. Bạn mở mắt, hình dung cảnh các em sinh viên đang đẩy bệnh nhân trên cáng, theo sau là người nhà bệnh nhân, lo âu, căng thẳng. Y tá thì tất tả chạy đi đặt đường truyền. Đố ai tiếp tục ngủ được!

Phòng C3 tim mạch là một nơi lạ kì, bởi bên cạnh những phút cấp cứu căng thẳng tột độ, đôi lúc nó đem lại cho chúng ta cảm giác “lao xao” của các phiên chợ sớm. Vài bệnh nhân bắt đầu thức giấc, chuyện trò nho nhỏ. Những tiếng ngáp, vươn vai uể oải. Tiếng dép khua loẹt quẹt của người nhà đưa bệnh nhân đi vệ sinh. Tiềng xầm xì buôn chuyện phát ra từ dãy giường xếp kê dọc hành lang. Vài tiếng thở dài thưa thớt… 30 phút nữa, có thể nghe được tiếng rao vặt bán nước sôi, bán trứng luộc, bán bánh mì hay xôi nóng… Mọi người sẽ ùn ùn kéo ra mua. Trong khi bác sỹ trực bụng đói cắm cúi bên máy tính hoàn thành báo cáo giao ban…

* * *

Với tôi, mỗi âm thanh ở phòng C3 ít nhiều gì cũng đem lại cảm giác “bất an”. Nhưng  nếu C3 êm đềm cả đêm như khoa Cơ Xương Khớp, liệu nó có thân thiết và gắn bó với nội trú tim mạch đến thế?

4 giờ 30 sáng. Tôi nghe từng âm thanh nhỏ nhất, và biết mình đang ở C3, phòng C3 của chúng tôi, chứ chắc chắn không phải một nơi nào khác.

Tháng 3.2011

Đinh Linh

Trực bệnh viện Đại học Y

Trực bệnh viện Đại học Y

Tôi đang trực bệnh viện Đại học Y Hà Nội, không biết là đêm trực thứ bao nhiêu của năm thứ ba nội trú. Một đêm trực quá bình lặng, nếu so với phòng C3 luôn “sôi nổi” và ồn ã. Không mấy người thích trực trường Y, có lẽ vì buồn tẻ quá. Mà lũ nội trú tụi tôi vốn toàn loại “ngựa non”, thèm cảm giác adrenaline sôi lên trong máu của những ca sốc tim, suy hô hấp, hay cấp cứu ngừng tuần hoàn.

Bệnh phòng sạch sẽ và lặng lẽ. Khoảng 5-6 bệnh nhân đến khám. Không quá ít, không quá nhiều. Tôi tiếp đón từng người với sự chậm rãi dễ chịu ngấm ngầm. Ở đây, nơi “yên bình” này, chúng tôi – thầy thuốc và bệnh nhân – có thể cư xử với nhau “đàng hoàng” hơn một chút. Nghĩa là thầy thuốc không phải to tiếng hay gắt gỏng, còn bệnh nhân tự dưng mất hẳn thói quen thì thào dấm dúi vào tay bác sỹ vài tờ tiền xanh đỏ. Tôi nhìn người bệnh mới nhất của mình bắt đầu được y tá cắm chai truyền dịch – một ca sốt phát ban, xét nghiệm máu không có gì đặc biệt, có lẽ sẽ ngủ đêm tại nhà sau khi hạ sốt – và tự hỏi điều gì thực sự quan trọng đối với mỗi bệnh nhân? Mọi sự so sánh đều khập khiễng, dĩ nhiên trong từng hoàn cảnh cụ thể cần cố gắng hết sức để đem lại lợi ích cho người bệnh. Nhưng nếu lợi ích đó là tối thiểu, mặc cho những nỗ lực tối đa, liệu có thể không buồn? Một đêm trực C3, cả lũ nội trú cũ mới đã hì hục cấp cứu bệnh nhân trong 2 tiếng, đặt tất cả những gì có thể đặt (nội khí quản, máy tạo nhịp, đường truyền tĩnh mạch trung tâm), chỉ để 10 phút sau đó y tá lặng lẽ rút hết những gì có thể rút. Không phải chỉ một lần chúng tôi đã nhìn thấy kết cục không thể đảo ngược. Khi cần chọn lựa giữa sự sống và cái chết, câu trả lời dường như đơn giản. Thực tế lâm sàng đôi khi chẳng giản đơn như thế.

Tôi vẫn thích phòng cấp cứu C3, bởi những va vấp, sương gió của nó đem lại các trải nghiệm không thể đong đếm. Nhưng bao nhiêu thứ “hoành tráng” mà lũ nội trú tụi tôi vỗ ngực tự hào, liệu có đem lại cho người bệnh sự thanh thản, như bệnh nhân sốt virus kia đang thanh thản nằm nhìn từng giọt dịch truyền chậm rãi rơi.

Năm thứ ba nội trú, đôi lúc vẫn có cảm giác chưa thể hiểu hết công việc mình đang làm.

Tháng 4.2010

“Those were the days, my friends…”

Hôm trước tụ tập liên hoan nội trú, để các anh chị năm cuối “giải đen” sau một kì thi vất vả, còn mấy em newbie năm đầu thì ra mắt các “đại ca”. Lâu lâu rồi mới có một “Resident Night” vui đến thế. Nhưng vài người không hứng thú tham gia. Mình với Yến B (nội trú khóa 29, đã ra trường được 1 năm), đều chẳng hiểu tại sao. Nghĩ lại, mình bây giờ không thân thiết với các anh chị em nội trú thì thân với ai. Công việc bận rộn, ở viện suốt ngày, thời gian chăm sóc cho gia đình chẳng có. Bạn bè thân thiết đứa đi nước ngoài, đứa lập gia đình, hoặc ai cũng bận bịu công việc sự nghiệp riêng, đâu phải lúc nào cũng gặp được nhau. Chỉ có nội trú, sáng cùng giao ban, trưa cùng ăn, chiều cùng trực buồng (hoặc cùng “đùn đẩy” nhau chuyện trực buồng), tối xuống phòng cấp cứu Tim mạch, chen nhau làm thủ thuật, đêm trực cùng chiến đấu ở C3, trông bệnh nhân nặng. Khi bệnh viện là nhà, thì nội trú như những anh chị em ruột thịt.

Nhớ hồi mình “còn bé”, tập làm thủ thuật, có mấy anh chị lớn đứng xung quanh cổ vũ bình luận (chỉ trỏ), run nhưng cũng vững tâm vài phần. Hay những tối thường trú, vào phòng bác sỹ trực thấy đông nghịt người, đứa ngồi internet tìm tài liệu, đứa chat chit YM, mấy đứa buôn chuyện; ngồi phịch xuống ghế than thở về một ca lâm sàng, để cả nhóm có dịp “mổ bò” sôi nổi. Nhớ những buổi trưa sinh hoạt chuyên môn theo kiểu “vừa học vừa ăn”, ai cũng buồn ngủ díp cả mắt, cứ phải đợi cơm hộp mới tỉnh ra. Nhớ nhất là những tối bệnh nhân nặng vào cấp cứu, nhân viên của viện hết giờ hành chính đi về hết, chỉ có đám nội trú hì hụi làm, dù “outcome” cực kì thấp. Và còn bao nhiêu buổi cà phê cà pháo, ngoài và trong giờ hành chính; các tiết mục nhậu nhẹt, cá độ này nọ (ví dụ: “Điện tâm đồ này anh đảm bảo tắc đoạn 1 LAD, nếu sai anh sẽ mời chú bữa bia”). Ai bảo cuộc sống nội trú là buồn tẻ!

Có biết bao việc để nội trú tâm sự, chỉ dạy cho nhau. Từ cách khám bệnh nhân, cách cho thuốc, cách chọc dịch màng tim hay đặt máy tạo nhịp, cách xin chữ kí để lần nào thày cũng duyệt, đến cách làm kiểm thảo tử vong, cách giải thích tình trạng nặng cho gia đình người bệnh, cách tự bảo vệ mình về mặt pháp lý trong các ca “nhạy cảm”, vv và vv… Hồi trước Kiddoc (nội trú khóa 30) thân với anh Tuấn A (khóa 28) một phần cũng vì anh Tuấn là người đầu tiên “cầm tay Kid dạy chọc dịch màng phổi”. Khi mình mới vào nội trú hay “lon ton” đi theo bà Yến B trong các đêm trực, học được lắm “võ” hay. Dạo ấy cám ơn Yến ghê gớm, vì cái gì cũng được tự làm, chị chỉ đứng “đỡ đầu”. Bây giờ mới biết nội trú lớn có “trẻ con” đi theo thật sung sướng và nhàn nhã (“trẻ con” chăm chỉ làm hết các việc tay chân rồi)… Thôi không tiết lộ nữa, để từ từ còn “chăn” mấy em khóa mới.

Rồi sau này, mỗi đứa sẽ theo một ngã rẽ khác nhau, ai biết được. Nhưng như chị Yến B nói với các em nội trú khóa 34 hôm trước (bên nồi lẩu): “Bây giờ bọn em ra đường, một là thủ thế, hai là xuất chiêu. Khi về với các anh chị nội trú Tim mạch thì không bao giờ cần nghĩ đến hai chuyện đó!”


Tháng 10.2009

L.B.

Chuyện kiểm thảo tử vong

Thỉnh thoảng lũ nội trú đang lảng vảng ở phòng C3 (Cấp cứu Tim mạch) lại bị bà y tá trưởng kéo vào phòng hành chính bắt làm kiểm thảo tử vong, theo đúng nguyên tắc “Cứ thấy đứa nào kí bệnh án cuối cùng thì bắt đứa đó kiểm thảo”. Phải có “nguyên tắc” vì công việc này chẳng ai muốn làm. Thay cho autopsy (khám nghiệm tử thi) vốn là điều bắt buộc, người ta yêu cầu phải điền đủ 3 trang A4 về thành phần kíp trực, diễn biến bệnh, nguyên nhân tử vong, thái độ của nhân viên y tế, vv và vv… mà thường là cuối cùng sẽ lẫn trong đống hồ sơ cũ kĩ không ai thèm đọc. Bệnh nhân không cứu lại được nữa, những vấn đề chuyên môn (và cả ngoài chuyên môn) thì tua trực cũng tự rút kinh nghiệm rồi. Ấy là chưa kể lắm bệnh nhân nặng nằm tại khoa cả tuần, mình vừa nhận trực thì tử vong, sau vài phút cấp cứu có đủ để hiểu rõ diễn biến bệnh và nguyên nhân chết? Thành ra tờ giấy kiểm thảo tử vong bỗng mang tính hình thức kinh khủng. Kết quả, ông nội trú nào cũng ngồi ngoáy vội vài dòng chung chung về diễn biến bệnh giai đoạn cuối để bà y tá mẫn cán hoàn thiện hồ sơ nộp cho phòng lưu trữ.

Hài hước nhất là phần “Thái độ của nhân viên y tế”, gồm các mục như: đón tiếp bệnh nhân thế nào, chẩn đoán bệnh thế nào, điều trị bệnh và cấp cứu ra sao, lúc bệnh nhân tử vong thì thế nào,… Phải viết về mình cũng khó ghê, không lẽ tự chê bai (có ai bắt Conrad Murray làm kiểm thảo cho cái chết của Michael Jackson)? Thế nên cứ nội trú lớn dạy nội trú bé, học thuộc khoảng 10 tính từ “đẹp đẽ” để điền vào giấy cho nhanh lẹ. Mọi biên bản đều theo cùng một khuôn. Đón tiếp người bệnh: ân cần niềm nở. Chẩn đoán bệnh: nhanh chóng, chính xác. Chăm sóc: chu đáo, tận tình. Điều tri: tích cực, đúng phác đồ. Cấp cứu: kịp thời, tận tâm. Khi bệnh nhân tử vong: cảm thông, chia sẻ. Đại khái thế. Nếu không theo mẫu mà tự ngồi “nghĩ” ra từng đó “mỹ từ”, mà lại phải khác nhau, thì chẳng đơn giản đâu nhé.

Một lần ngồi kiểm thảo tử vong, bỗng dưng hỏi nếu tất cả những gì mình viết về thái độ của nhân viên y tế là đúng, thì người bệnh có tử vong không, hay thực sự tiến trình bệnh là không thể đảo ngược dù chúng ta đã cố gắng hết sức? Nếu việc chăm sóc và điều trị hoàn hảo như thế, tại sao người bệnh vẫn chết? Lan man thêm một chút, thử chọn những “xú từ” thay cho “mỹ từ”. Như là, đón tiếp bệnh nhân: cáu kỉnh, gắt gỏng; chẩn đoán bệnh: chậm trễ; chăm sóc: lơ là, không chu đáo; điều trị: thiếu tích cực, không theo phác đồ chuẩn; cấp cứu: chậm chạp, thiếu phương tiện,… Đôi lúc thấy mấy “xú từ” này có vẻ quen quen…

Mỗi ca tử vong, dù ít dù nhiều, cũng là một thất bại của người thày thuốc – thất bại của cả quá trình điều trị, chứ không riêng gì giai đoạn cuối. Người bệnh đến với phòng Hồi sức cấp cứu đã như ngọn nến sắp tàn, những cơ hội để được sống lâu hơn, sống tốt hơn (nếu có) đã bị bỏ lỡ rồi. Nói như cuốn Washington, “The goals of critical care medicine are to save the lives of patients with life-threatening but reversible medical or surgical conditions and to offer the dying a peaceful and dignified death” (Nhiệm vụ của bác sỹ hồi sức là cứu sống những bệnh nhân còn có thể cứu, và đem đến cho người hấp hối một cái chết yên bình và xứng đáng). Thôi thì cố gắng hoàn thành cái nghĩa vụ nhỏ nhoi đó vậy. Để người bệnh được ra đi thực sự xứng đáng, để mỗi lần ngồi kiểm thảo tử vong không phải ân hận hay dằn vặt.

Tháng 8.2009

Dinh Linh

Tiếp thị thuốc – Câu chuyện của Procoralan

Khoảng 2 năm trở lại đây, Procoralan đổ bộ vào BV Bạch Mai, với cơ sở khoa học là nghiên cứu BEAUTIFUL đăng trên tờ Lancet, theo đó ivabradine giảm biến cố mạch vành ở những BN đau ngực ổn định, có giảm chức năng thất trái (EF<40%), và nhịp tim lớn hơn 70 [1]

Có 3 điểm đáng lưu ý ở nghiên cứu BEAUTIFUL: (1) đối tượng nghiên cứu là BN bệnh mạch vành ổn định (stable coronary artery disease), nghĩa là không phải nhóm nhồi máu cơ tim hay đau ngực không ổn định; (2) 87% số BN nghiên cứu được dùng thêm thuốc chẹn beta giao cảm, một thuốc đã được chứng minh từ lâu có hiệu quả trong bệnh mạch vành nhờ tác dụng giảm nhịp tim, giảm nhu cầu tiêu thụ oxy của cơ tim, giảm triệu chứng đau ngực; và (3) ivabradine không cải thiện “primary endpoints”, nghĩa là không giảm tỉ lệ tử vong, không giảm tỉ lệ tái nhập viện do suy tim, chỉ có tác dụng với các tiêu chí phụ (“secondary endpoints”), bao gồm giảm tỉ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, giảm tỉ lệ tái can thiệp mạch vành. 3 điểm trên ít được đề cập trong các hội thảo hay tờ rơi về nghiên cứu BEAUTIFUL.

Tuy nhiên, “một nữa sự thật vẫn là sự thật”?, hoặc có lẽ nhờ SERVIER làm tiếp thị quá tốt nên hiện tại Procoralan (biệt dược của ivabradine) được sử dụng khá rộng rãi, ngay cả ở nhóm bệnh nhân có hội chứng mạch vành cấp. Một chuyện vui, năm 2007, khi GS James Dove, khi đó là chủ tịch Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ (American College of Cardiology) sang Việt Nam dự hội nghị Tim mạch Việt-Mỹ, ông được mời đến khám cho một VIP, sau khi đọc đơn thuốc của VIP này thì có 2 thuốc mà GS James Dove lần đầu tiên nhìn thấy, đó là Vastarel (một thứ dược phẩm phổ biến mà không ai trong chúng ta tìm được nghiên cứu chứng minh tác dụng) và Procoralan.

Kết: Tớ chẳng có thù hằn gì với Servier cả. Tiếp thị thuốc là một phần không thể thiếu của hệ thống y tế, và các hãng dược phẩm cùng các trình dược viên có quyền làm tốt nhất phận sự của mình. Tất cả phụ thuộc vào bác sỹ điều trị và ở một mức độ nào đó là các dược sỹ lâm sàng.

———–
Tài liệu tham khảo:

[1] Kim Fox, Ian Ford, P Gabriel Steg, Michal Tendera, Roberto Ferrari, on behalf of the BEAUTIFUL Investigators: Ivabradine for patients with stable coronary artery disease and left-ventricular systolic dysfunction (BEAUTIFUL): a randomised, double-blind, placebo-controlled trial. The Lancet, Volume 372, Issue 9641, Pages 807 – 816

Khi những đêm trực đi qua…

Vừa ngồi đọc note của Goth trên Facebook. Xét trên một khía cạnh nào đó, suy nghĩ của Goth là suy nghĩ của tôi mấy năm về trước. Điều đó cũng dễ hiểu, khi chúng ta đi trên cùng một con đường, với cảnh sắc giống nhau, với những bông hoa hay khóm cỏ dại chẳng mấy thay đổi theo ngày tháng. Thế thì cảm xúc sẽ tương đồng. Chỉ không biết 3-4 năm nữa, Goth có giống tôi bây giờ, khi đã nhìn thấy quá nhiều (dù nhiều chuyện vẫn chưa nhìn rõ). Em trăn trở vì một trường hợp tử vong mà lẽ ra đã sống – những ca như thế đập vào mắt tôi hàng ngày. Đó có thể là một bệnh nhân lẽ ra cần được thở máy sớm nhưng không thể (vì không có máy thở), có thể là một bệnh nhân bị cấp cứu chậm trễ (vì bác sỹ phải “leo” qua cả một rừng người nhà đang nằm ngủ ngon lành dưới đất), vv và vv… Và còn bao nhiêu cái nho nhỏ nữa, như bệnh nhân chỉ được thử đường máu 3h một lần thay vì mỗi 1h, hay không được đặt catheter tĩnh mạch trung tâm dù đã có chỉ định, bệnh nhân thiếu tiền, kíp trực neo người và mệt mỏi vì gánh nặng của những việc “bull shit” không tên,… Bao nhiêu lý do để việc điều trị chưa thể tối ưu. Chẳng có gì hoàn hảo, nhất là việc thực hành y học ở Việt nam. Điều này Goth có hiểu? Những người ngoại đạo có hiểu?

Khi ép tim cho bệnh nhân, liệu Goth có cảm nhận được sự bất lực của người bác sỹ trực. Dù chúng ta có nỗ lực hết sức với 100% sức lực, và thực hành đầy đủ các bước cấp cứu, thì vẫn là vô nghĩa. Mọi thứ đều trở thành vô nghĩa, khi bệnh nhân tử vong.

Mà có mấy khi mỗi chúng ta đủ tinh thần và sức lực để nỗ lực được đến 100% khả năng như thế?

Tháng 8.2009

Năm thứ hai nội trú

Dinh Linh

Những tia nắng ngập ngừng

Những tia nắng ngập ngừng

Tháng Tư luôn là khoảng thời gian thú vị trong năm, với những tia nắng đầu tiên và cơn mưa rào đầu tiên của mùa hạ. Tháng Tư này chợt ngập ngừng đôi chút. Cứ một buổi nắng thì hai buổi sầm sì u ám. Mưa rả rích và buốt lạnh. Có cảm giác mùa đông rét mướt vẫn lẩn quất đâu đây, còn mùa hạ thì ngập ngừng chưa tới.

Cái ngập ngừng của tiết trời như lây sang con người. Mình đi luân khoa Nội, khởi đầu bằng khoa Nội tiết. Xa rồi bệnh phòng Tim mạch tấp nập, ồn ã và nhốn nháo. Khoa Nội tiết là một thế giới thanh bình, yên tĩnh hơn. Sau mấy ngày đầu ngập ngừng, dần dần cũng quen với nhịp điệu chậm rãi và thận trọng ấy. Xét cho cùng thì chậm rãi có gì là xấu, bởi đa số bệnh nhân cần sự chăm sóc chu đáo và lâu dài của người thày thuốc, hơn là những pha can thiệp “hoành tráng” trong lúc thập tử nhất sinh. Dự định trong thời gian này sẽ tích cực đọc sách, nhưng mãi vẫn chưa hoàn thành một quyển rất cơ bản. Lại là sự ngập ngừng (đến quen thuộc) trong việc triển khai các kế hoạch. Bao giờ mới thay đổi được? Mùa hạ có thể ngập ngừng, nhưng thời gian thì không chờ đợi.

Tháng Tư có gì để nhớ? Trong những ngày nắng (hiếm hoi) đầu tháng, một đoàn giáo sư bác sĩ từ trung tâm y học Mayo Clinic tự bỏ tiền túi sang giảng bài ở bệnh viện Bạch Mai. Thật tuyệt vời khi có điều kiện tiếp xúc trực tiếp và học hỏi các chuyên gia đầu ngành; thay vì chỉ “nghe danh” qua guidelines hay các bài báo đăng trên New England, JACC,… Những cơ hội như vậy khiến ta bớt chông chênh, thêm niềm tin vào con đường đang chọn. Họ có thể ngập ngừng khi rời xa cái lạnh vùng Rochester để làm quen với miền nhiệt đới nóng bức oi ả, nhưng sự nhiệt tâm giúp đỡ là thứ chẳng còn gì phải ngập ngừng nữa cả.

Tháng Tư, thế là đã tròn một năm đi trực C3. Thủ thuật thành thạo hơn, xử trí tự tin hơn đôi chút. Nhưng vẫn còn nguyên nỗi sợ khó giải thích trong những đêm trực cô độc. Khi một mình đứng trước bệnh nhân, với hàng loạt lựa chọn “Có” hoặc “Không”, mới cảm thấy kiến thức của bản thân ít ỏi làm sao, kinh nghiệm hạn chế làm sao. Nhưng nghề Y không có chỗ cho sự ngập ngừng. Đành cố gắng hết sức, theo cách mà mình tin là tốt nhất và đúng nhất. Vừa làm vừa học, hy vọng các trải nghiệm sẽ làm ta thêm vững vàng, cứng cáp.

Ngập ngừng đi qua tháng Tư, giữa những buồn vui, chán nản hay hưng phấn. Đợi chờ tháng năm, nắng tràn trề, cùng cơn mưa rào nồng nàn dữ dội…

Tháng 4.2009

Đinh Linh

Dưới chân dốc

Dạo này đêm nào cũng nằm lẩm nhẩm “It’s Been A Hard Day’s Night” nên ít thời gian viết lách hay ngồi kể lể dông dài. Hôm nay gặp một bệnh nhân quen quen, thấy chìa ra giấy hẹn “Về nhà uống thuốc đều theo đơn. Ăn nhạt. Một tháng sau đến khám lại, kiểm tra PT, INR”. Đúng nét chữ của mình . Công nhận bệnh nhân thật “ngoan” và có trách nhiệm với sức khoẻ. Ah, mà thế nghĩa là đã đi viện được hơn một tháng rồi!

Thôi, ngồi kể vài ba chuyện nho nhỏ về cái tháng đầu tiên này, nhân một ngày cuối tuần…

1. Ca shock điện đầu tiên

Chiều hôm trước chị Cẩn Nội trú 28 nói đùa “Tối nay về nhớ rửa tay thật sạch vài lần nhé”. “Thằng bé” chả hiểu gì (chắc là vì thế nên hình như cả tối không thèm … rửa tay) . Sáng hôm sau cho thuốc xong xuôi, chú Hùng trưởng khoa và chị Cẩn gọi mình vào phòng thủ thuật để làm shock điện phá rung nhĩ. Lần đầu tiên khá hồi hộp, ấn mạnh tay quá thì sợ bệnh nhân bị điện đốt bỏng da, mà nhẹ quá e không đủ cường độ. Bệnh nhân là một phụ nữ khoảng 50 tuổi, có tiền sử bệnh van tim. Trước khi gây mê, mình nắm lấy tay cô ý để an ủi, tự cảm thấy bản thân còn lo lắng hơn. 3-2-1, “bụp” một phát, thế là xong! Bệnh nhân chỉ hơi nảy người một chút chứ không “bay” lên khỏi giường như trong phim xi-nê . Monitor hiện kết quả: vẫn còn rung nhĩ, shock điện thất bại. Coi như người bệnh sẽ phải chung sống với tình trạng loạn nhịp tim cả đời. “Sư phụ” Cẩn an ủi “Ca này khó, chị đoán shock điện 90% là thất bại nên mới dí cho em làm”. Thôi, lần sau nhớ rửa tay thật kĩ cho nó “son”!

2. Lần đầu tiên “biết sợ”

Chuyện này nói ra hơi “xấu hổ” . Hình như là tuần lễ thứ hai. Mình vẫn ngu ngơ và nói chung, khá là tinh tướng . Hôm đó vừa học được “võ” cho thuốc điều trị bệnh mạch vành. Cả chiều “thằng bé” ngồi mần mò sách vở, articles,… rất lấy làm hãnh diện . 19h, đảo qua C2, gặp ngay một bệnh nhân đau ngực mới nhập viện, mình chẩn đoán sơ bộ là cơn đau do bệnh mạch vành (nói chung, ở Viện Tim mạch này, 80% bệnh nhân đau ngực là do mạch vành). Bác sĩ trực đã khám nhưng … chưa cho thuốc , thế là “thằng bé” định “nện” ngay thuốc chống đông (Aspegic, Plavix) theo đúng guidelines (tự tin ghê gớm ). Ra phòng hành chính thấy anh Văn (bác sĩ trực) đang trầm ngâm đắn đo. Anh bảo ca này hơi mơ hồ, vẫn còn băn khoăn không biết là bệnh mạch vành hay phình tách động mạch chủ; bây giờ tốt nhất phải cho chụp CT Scanner để chẩn đoán xác định (nếu đúng phình tách ĐMC thì chống chỉ định với thuốc chống đông ). “Thằng bé” sợ xanh mắt mèo , chả dám ho he gì, đành ngồi đến tận 23h chờ phim CT. Kết quả: “Phình động mạch chủ ngực từ chỗ tách của động mạch dưới đòn trái đến ngang mức chia động mạch thận”.

Hú vía! Mặc dù nếu gặp đề thi “Chẩn đoán phân biệt các nguyên nhân đau ngực” thì sinh viên Y6 nhắm mắt cũng đọc làu làu nào là: do bệnh mạch vành, do phình tách ĐMC, do tràn dịch màng tim, do viêm cơ tim, do đau thần kinh liên sườn, vv và vv… Nhưng thực tế mới thấy rõ tư duy của mình cứng nhắc đến mức nào. Đúng thật, “Mọi lý thuyết đều chỉ là màu xám – Và lâm sàng vĩnh viễn xanh tươi!”

3. Nỗi buồn đầu tiên

Do vài nguyên nhân khách quan mà một đứa mới tập toẹ như mình cũng được phân công điều trị cả một phòng 4 giường bệnh (khoảng 10-15 bệnh nhân, chừng đó đủ tưởng tượng bệnh nhân “nằm ngồi” ra sao ). Tất nhiên là vẫn có chú Hùng đi theo “bảo kê”, nhưng nói chung trách nhiệm của “thằng bé” là rất lớn. Hôm nhận phòng, mình chú ý ngay bệnh nhân T., 24 tuổi, vì tập bệnh án dày cộp (chứng tỏ nằm viện đã lâu). Cậu ta là sinh viên Đại học Bách khoa năm cuối, người cao ráo, đẹp giai. Có điều phát hiện bệnh muộn nên chức năng tim đã giảm nhiều. Cách khả dĩ nhất là mổ thay van tim, nhưng nặng thế này cũng chả phẫu thuật viên nào dám “sờ” vào. Hơn nữa thay van tim mất 30-40 triệu, bệnh nhân không có thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) nên không đủ tiền. Cô y tá trưởng cứ trách mãi (chắc là vừa giận vừa thương) tại sao lại không mua BHYT để bây giờ phải khổ. Mình lạ gì, sinh viên có đứa nào thèm để ý chuyện bảo hiểm đâu .

Có một lần bà mẹ sụt sịt đến xin cái giấy chứng nhận tình trạng sức khoẻ để T. được hoãn bảo vệ luận văn tốt nghiệp. Mình viết giấy mà còn thấy cay đắng, không hiểu cha mẹ bệnh nhân nghĩ gì

Khoảng 1 tuần sau hôm xin giấy ấy, gia đình bệnh nhân xin về. Lý do chính là hết tiền (khi đó vẫn nợ viện khoảng 3-4 triệu). Kể ra thể trạng bệnh nhân chưa nặng (vẫn đi lại, cười nói được, tối tối lũ bạn đại học vẫn kéo vào cười đùa ầm cả bệnh phòng), nhưng cái bệnh này chỉ có tệ dần đi chứ không thể tiến triển được . Trước đó mình dùng một đợt vận mạch thật “trâu bò”, nhất thời cải thiện được tình trạng suy tim chút ít; khi ra viện tạm coi là “có đỡ”. Cảm giác bất lực, thôi đành “khuất mắt trông coi” vậy. Không biết hiện giờ bệnh nhân ra sao.

* * *

Còn mấy mẩu chuyện mang màu sắc tươi sáng và “hoành tráng” hơn, nhưng mệt rồi nên hôm khác ngồi gõ tiếp vậy. Có thể chỉ vài tháng nữa, mình đọc lại mấy dòng này và thấy “buồn cười” cho cảm xúc của những ngày đầu tiên ấy . Nhưng cứ coi entry này như một cách lưu giữ thời gian. Bởi vì một tháng qua ở bệnh viện vẫn là vui, ít nhất còn thấy kiến thức mình học gần gụi và “có ích”. Còn đêm về hát lầm nhẩm đôi chút, có sao đâu…

It’s been a hard day’s night, and I’ve been working like a dog
It’s been a hard day’s night, I should be sleeping like a log

Tháng 4.2007