Khi Thụy Điển tái ngộ Đan Mạch

Khi Thụy Điển gặp lại Đan Mạch

Kí ức vẫn rõ rệt như một cuốn phim tài liệu. Umeå, thứ Bảy ngày 6/6/2009. Trước khi sơ kết nửa đầu khóa học, Kristina thông báo hôm nay người Thụy Điển có ba niềm vui để chờ đợi: ngày Quốc khánh, ngày Robin Soderling đụng đầu Roger Federer trong trận chung kết Roland Gaross, và ngày đội tuyển bóng đá Thụy Điển đón tiếp các vị hàng xóm Đan Mạch trên sân vận động quốc gia ở thủ đô Stockholm. Hellen ngay lập tức đứng lên hỏi mọi người có muốn tụ tập ở downtown tối nay để xem bóng đá hay không? Kì thi vất vả đã trôi qua, ngày nghỉ cuối tuần đang đến thật hào hứng. Cả lớp giơ tay đồng ý, và Hellen, duyên dáng trong bộ váy đen ngày lễ (buổi sơ kết khóa học cũng được cô coi là “holiday”), hứa sẽ đặt một bàn cho cả nhóm ở quầy bar trung tâm Umeå. Cô đến từ Đan Mạch, có lẽ sẽ là cổ động viên Đan Mạch duy nhất trong buổi tối hôm nay.

Umeå, thủ phủ xứ Västerbotten, là một thành phố nhỏ bé và trầm lặng ở miền cực Bắc. Không có tàu điện ngầm, không có nhà chọc trời, rất ít xe hơi và rất nhiều xe đạp. 18h, tôi cùng Ngọc Linh, anh bạn cùng phòng, rời khách sạn và đi bộ về phía downtown. Ngày cuối tuần, Umeå như vắng vẻ hơn trong những cơn gió lạnh buốt da. Gần nhà hàng O’Learys, dân tình xếp thành hàng dài trước máy rút tiền ATM. Sẽ có một đêm Quốc khánh rất vui, với rất nhiều bia được rót, nhiều rượu được khui, và nhiều tiền mặt rút ra khỏi ví. Lúc ấy, ở Paris, Soderling đang bị Federer áp đảo hoàn toàn; nhưng có hề gì, cả Thụy Điển vẫn hào hứng chờ đợi chiến thắng từ sân vận động quốc gia Stockholm, một niềm vui đủ lớn để xua đi mọi nỗi buồn thất bại khác.

Quán O’Learys chật cứng người. Không rõ Hellen đã đặt chỗ thế nào, nhưng chúng tôi chỉ có thể đứng xung quanh một chiếc bàn nhỏ. Chúng tôi phải chia sẻ bàn với hai người đàn ông Thụy Điển đứng tuổi. Họ xem trận đấu một cách chậm rãi và điềm đạm, mặc cho những ly bia được rót ra liên tục đang tố cáo sự phấn khích âm thầm. Hellen, ngược lại, vui tươi và sôi nổi như một cô nữ sinh. Cô vừa gạ được Edison, cậu bạn cùng lớp đến từ Columbia, trở thành cổ động viên của Đan Mạch. Ít nhất, sẽ có người để cô cụng ly sau mỗi pha bóng đẹp của đội nhà. Mà nếu cô không nhờ Edison, chúng tôi cũng sẵn sàng làm điều đó, dù rằng trong thâm tâm, tôi yêu quý Thụy Điển hơn.

Có lạ kỳ không, khi trong ngày trọng đại ấy, bi kịch nối tiếp đến với đội quân áo vàng. Phút thứ sáu của trận đấu, Thụy Điển được hưởng một quả penalty. Källström bước lên chấm phạt đền, và sút hỏng, để lại phía sau lưng cả một biển người lặng im thất vọng trong ngày Quốc khánh. Khi thủ thành Sorensen chặn được cú đá phạt đền quá hiền ấy, anh cũng chặn luôn những giọt bia đang chực tuôn trào ở hàng ngàn quán bar trên đất Thụy Điển, trong đó có quán O’Learys. Chưa đầy 20 phút sau, Đan Mạch mở tỉ số. Tôi quay sang Hellen, cô sung sướng như một đứa trẻ, không để ý tới xung quanh. Cô nhảy múa, cô hôn lên má Edison, bá vai tôi, và ca hát mặc kệ đám người đang câm lặng trong quán. Có sao đâu, tình yêu không có tội, nếu Soderling được quyền khóc cho thất bại thì Hellen cũng có quyền nhảy múa với niềm vui rất chính đáng của mình.

Chơi trên sân nhà, bỏ lỡ một quả penalty, và bị thủng lưới trước. Không còn kết cục nào tệ hơn cho các cổ động viên áo vàng. Nhưng có lẽ Chúa Trời thấy như thế là chưa đủ, nên từ lúc đó đến cuối trận đấu, liên tục Ibrahimovich, Larsson, Andersson thi nhau sút bóng ra ngoài. Để người Thụy Điển tiếp tục nhấm nháp từng giọt bia trong u buồn, còn Hellen thì cứ ca hát đến tận phút thứ 90. Người đàn ông cùng bàn ngồi bất động, chỉ có chòm râu hơi khẽ rung sau mỗi pha bóng hỏng ăn của đội nhà. Ông có bộ râu rất đặc trưng của xứ Scandinavi, giống như Nobel, giống huấn luyện viên Lagerback, giống ông bố Emil trong truyện “Emil trên mái nhà” của Astrid Lindgren, nói chung là giống hàng ngàn ông già Thụy Điển 60 tuổi khác. Cuối cùng, khi sự thất vọng không còn chỗ để tuôn trào nữa, ông quay sang bắt chuyện với chúng tôi. Ông đã sống hơn 50 năm ở Umeå, từ ngày nó còn là một thị trấn nhỏ, và hiếm khi đi khỏi đây. Đây là lần đầu tiên ông xem bóng đá cùng nhiều người ngoại quốc đến thế. “Một trải nghiệm thú vị”, ông bảo Hellen, “Tôi rất vui vì cô đã đến ngồi bàn này, cùng những người bạn của cô. Congratulations!”. Hellen cười rất tươi và gọi luôn một lúc cả chục ly bia đãi mọi người. Samuel, học viên đến từ Nigieria, kể rằng ở chỗ anh, một cổ động viên ngoại lai như Hellen có thể bị đám đông đuổi đánh cho đến chết. Hai người Thụy Điển ngạc nhiên, còn tôi thì không. Ở Việt Nam, cổ động viên Hải Phòng hay Nghệ An đôi khi cũng thế. Nhưng đây là Thụy Điển. Tình yêu của người hâm mộ ở đâu cũng nồng cháy như nhau, nhưng cư xử với đối thủ sao cho văn minh thì không phải ai cũng làm được. Chẳng phải họ đang bắt tay Hellen rất chặt hay sao, dù rằng tỉ số là 0-1, và truyền hình đang chiếu cảnh Ibrahimovic rời sân và mái đầu cúi thấp. Tôi chụp vài kiểu ảnh kỉ niệm cho Hellen. “Về sau, lúc về già ấy, cô có thể kể lại với con cháu rằng cô đã một mình cổ vũ cho Đan Mạch trên đất Thụy Điển”, ông già Thụy Điển nốc hết ly bia. “Ồ, bạn chụp ảnh tôi ah, tôi cũng muốn chụp ảnh các bạn, đứng sát vào nhau đi” – ông nói và rút một chiếc điện thoại Sony Ericsson cũ kĩ từ trong túi ra. Tôi tự hỏi ở Việt Nam bây giờ có ai còn xài loại “cục gạch” chụp ảnh 1.3 Mpx này nữa không, nhưng người Thụy Điển vẫn ưa những đồ “nồi đồng cối đá” hơn, như xe Volvo, như máy giặt Electrolux, không bóng bảy mà bền và hiệu quả. Chiếc điện thoại Ericsson cũng thế, nó đủ giúp ông chủ lưu lại một tấm hình lưu niệm đẹp về những người bạn ngoại quốc mới quen, vì tôi thấy ông mỉm cười rất hài lòng.

22h đêm. Chúng tôi rời quán O’Learys. Gần quảng trường trung tâm, vẫn còn dăm ba đám cổ động viên chụm lại hút thuốc trong gió rét. Thế là Thụy Điển đã thua, ngay trên sân nhà, ngay trong ngày Quốc khánh. Tôi hơi buồn đôi chút. Từ lâu, đất nước yên bình này đã chiếm một một góc thân thương trong tôi. Nhưng dù sao, cuộc đua còn dài, và nếu Zlatan Ibrahimovic không gặp may buổi tối hôm nay, anh và đồng đội vẫn còn nhiều dịp để sửa sai. Còn lúc này, Hellen đang rủ cả nhóm đi nhảy. Đêm thứ Bảy mà về nhà trước nửa đêm thì quá sớm, thi cử cũng đã xong xuôi. Thế tội gì mà không đi với cô, để cùng ăn mừng một buổi xem bóng đá đáng nhớ.

Tôi ôm lấy Hellen để chúc mừng cô, Khi ấy, tôi không nghĩ rằng khi Thụy Điển tái ngộ Đan Mạch, trong buổi tối tháng Mười quyết định này, tôi sẽ nhớ buổi tối hôm đó đến thế. Tối 10/10/2009, Đan Mạch được chơi trên sân nhà, và hẳn là Hellen sẽ chẳng cần nhờ bọn tôi làm “đồng đội” nữa. Còn giả sử tôi có mặt ở đấy, cùng với Hellen, tôi biết tôi sẽ hát khi Ibrahimovic đánh gót ghi bàn…

 

 

Tháng 10.2009

Dinh Linh

Một tấm ảnh kể chuyện

Dạo này lang thang các forum nhiếp ảnh, nghe được một câu khá hay, đại ý “Một tấm ảnh hay không nhất thiết là một tấm ảnh đẹp, nhưng nhất thiết phải là một bức hình biết kể chuyện”

Thế thì trong cái kho ảnh (mà phần lớn là chụp theo kiểu Point & Shoot không cần bận tâm đến ánh sáng hay kĩ thuật) của tôi, chắc cũng nhặt nhạnh được vài ba tấm ảnh “hay”. Ít nhất, “hay” với riêng bản thân tôi. Bởi mỗi lần lướt qua các bức hình mình chụp, tôi lại nhớ về một-chút-quá-khứ-đã-qua; như một người ngồi lên chiếc thuyền vượt thời gian để quay về tìm lại những dòng nước chảy dưới chân cầu…

* * *

Image

Đây là một tấm hình như thế. Thoạt đầu tôi không thể nhớ đã chụp trong hoàn cảnh nào, trước khi nhận ra tháp Effel nhìn từ đồi Montmartre.

Paris, mùa đông, tháng 2.2005. Những con phố dài và hẹp lát đá vàng, đá xanh. Paris không có tuyết phủ dày như Stockholm, và xen giữa những buổi sớm mai âm u se lạnh như tiết thu Hà Nội, vẫn là vài tiếng đồng hồ ngập tràn nắng ấm. Một buổi tối, khi cái lạnh quen thuộc của mùa đông quay về, bạn rủ tôi lên đồi Montmartre chơi. Chúng tôi xuôi theo một con phố nhỏ bán đầy tranh lưu niệm về Paris, men theo những vỉa hè tối tăm, cũ kĩ và ẩm ướt để thưởng thức cái gọi là “Kinh đô ánh sáng”. Từ chân đồi Montmartre nhìn về thành phố, thấy quán “Cối Xay Gió Đỏ” (Moulin Rouge) rực rỡ ánh đèn màu, kiêu sa và đài các. Tôi nhớ lại bộ phim cùng tên, với những cô đào xinh đẹp tuyệt trần cùng vài khúc nhạc nồng nàn quyến rũ, mới thử hỏi bạn xem có vào đó chơi được không. Bạn mỉm cười, “Moulin Rouge không tính tiền vé phụ nữ, còn đàn ông thì…”. Dù sao, như ai đó từng nói nhỉ, vẻ đẹp của Paris đâu thể khám phá chỉ trong vài ngày…

Có hai con đường lên đỉnh đổi Montmarte. Đường bộ quanh co, tối, lạnh (và hẳn là hết sức lãng mạn với một số người). Tối, lạnh thì chúng tôi không ngại, nhưng bạn nói con đường đó không an toàn, lơ ngơ gặp bọn “Rệp” (tiếng lóng chỉ dân nhập cư gốc Ả Rập ở Pháp, nói chung là tầng lớp chẳng hay ho gì) thì phiền lắm. Chúng tôi chọn thang máy (đúng hơn là cáp treo). Hiện đại hơn, an toàn hơn, ấm cúng hơn. Với lại, cũng chẳng có gì để mà “lãng mạn”…

Người ta hay kể về đồi Montmartre, với nhà thờ Sacré bằng đá trắng, với góc quán nhỏ nơi giới nghệ sĩ tụ tập, và những hoạ sĩ vẽ chân dung bên lề phố. Nhưng đó là chuyện của ban ngày và ánh nắng. Đêm xuống, Montmartre như một vườn hoa hay công viên, để các em nhỏ nô đùa bên bố mẹ, để những khách du lịch vác máy ảnh máy quay đi chơi “hóng gió”, để những người yêu nhau lên tình tự và những kẻ đắm say ngơ ngẩn tập làm thơ. Tôi chụp vài kiểu ảnh, mong ghi lại cái nhộn nhịp của một không gian thoáng đãng, hay cái hùng vĩ lãng mạn của Sacré. Tiếc là con máy IXUS 500 không hợp với chụp đêm vì gần như không cho phép thao tác nào khác ngoài chế độ “Fully Automatic” (đùa vậy thôi chứ hồi đó ngoài chụp Auto thì đâu biết làm gì?). Chất lượng ảnh tệ hại khiến tôi nản chí. Chúng tôi đi vòng quanh nhà thờ, cố ngó nghiêng tìm ra một điều gì thú vị. Bạn an ủi “Thôi buổi sáng hôm sau tớ dắt Bụ lên đây chơi”. Ah tiếc nhỉ, đã đi cả quãng đường dài như thế, chỉ để hóng mát và ngắm bầu trời đêm Paris đen đặc thôi sao?

Chợt mắt bạn sáng lên khi nhìn về Paris, Paris rộng lớn với những ánh đèn trắng đỏ vàng lấp lánh trong đêm, trải ra ngút ngàn tầm mắt. Bạn bảo, sắp đến 22h, và tháp Effel sẽ sáng lên trong vài phút, sẽ là một khung cảnh cực kì rực rỡ mà chúng ta không nên bỏ phí. Thế là bạn và tôi, hì hục chạy loanh quanh, tìm một chỗ đứng khả dĩ không bị che chắn tầm mắt bởi đám đông khách du lịch có chiều cao trung bình trên 1m80. Chúng tôi vòng ra mặt sau nhà thờ (hình như thế thì phải), nơi ánh đèn không chiếu tới và chỉ có những ô lưới thép dựng trên ban công, ngăn không cho vài chú nhóc hiếu kì nghịch ngợm ngã xuống núi. Tôi vừa kịp dừng lại thì đã nghe bạn gọi. Theo hướng tay bạn trỏ, trong màn đêm lạnh lẽo, biểu tượng của Paris đang sáng lên, rực rỡ như một ngọn đuốc cháy lấp lánh. Đấy, chính nó, “thần tượng” của bạn tôi và không biết bao nhiêu người nữa (đến nỗi mỗi sáng đi học, bạn đều cố chọn tuyến tàu điện ngầm qua ga Chámp Elysee để có thể ngắm được Effel). Với mỗi người dân Paris, có thể cái khung cảnh lặp đi lặp lại mỗi ngày ấy chẳng có gì thú vị. Nhưng với tôi, đứng lặng yên trong cái gió mùa đông, trong cái tối của một đêm tháng 2, trong cái lạnh của đỉnh đồi Montmartre, hình ảnh tháp Effel chiếu đèn rọi quanh Paris như ngọn hải đăng chợt mang một vẻ đẹp lung linh huyền ảo. Chúng tôi áp mặt vào khung lưới sắt, nhìn không chớp mắt. Tôi bấm vội vài kiểu ảnh, rồi cũng chả kịp ngó lại. Tôi sợ rằng nếu tôi quá chăm chú vào màn hình LCD, thì khi ngước mắt lên, cái ánh lộng lẫy kia đã tắt mất rồi và tất cả sẽ lại chìm vào bóng đen…

Tôi không nhớ rõ lắm khoảng thời gian ấy, có những lúc 1 phút chỉ dài bằng 1 giây, và cảm xúc đọng lại đầy tràn như catecholamine đang chảy trong huyết quản. Nhưng khi đèn tắt, chúng tôi chẳng còn gì để lưu luyến Montmartre nữa cả. Ra về thôi, muộn quá rồi, lỡ tàu điện ngầm thì phiền lắm. Còn Sacré, còn những hoạ sĩ vẽ chân dung, còn những kiểu ảnh ban ngày chụp bằng IXUS 500 (mà hẳn là chế độ đo sáng Auto White Balance sẽ rất tuyệt vời trong điều kiện nắng đẹp),… để hôm khác đi. May mà có cáp treo, đi xuống cho nhanh.

Tôi có nhiều kiểu ảnh chụp tháp Effel. Chụp từ con đường dọc sông Seine, chụp từ nhà ga Saint Michel, từ bảo tàng Invalide, từ điện Pantheon, và tất nhiên là cả từ quảng trường Trocadego (một ban công rộng rãi để ngắm nhìn toàn cảnh, với bệ chắn không quá cao cho phép người ta có thể leo lên và cảm thấy mình đang đứng ngang hàng với Effel qua kính ngắm máy ảnh). Trong những ngày lang thang “Under the Paris Skies”, tôi cảm giác như từ góc nào của Paris cũng có thể nhìn thấy Effel. Nhưng dù thế nào, tôi vẫn thích tấm ảnh chụp trên đồi Montmartre nhất. Có ánh xanh của khung thép chắn, có đèn vàng của những căn hộ lưng chừng đồi, và có cả Paris đang im lặng làm nền cho một vẻ đẹp lộng lẫy khó diễn tả bằng lời.

* * *

Chắc bạn không nỡ chê tôi chụp xấu, nhưng bạn có thể bảo là “Bức ảnh này thú vị đấy, nhưng chẳng lẽ nó đáng để viết một blog entry dài 4500 chữ hay sao?” Ah, tôi không rõ lắm. Với tôi, nó là một tấm ảnh biết kể chuyện, và những câu chuyện thì đôi khi dài ngắn vô hạn định. Nó gợi lại cho tôi những kỉ niệm của một buổi tối vui vẻ và thân ái (mà lúc về tôi đã ghé của hàng lưu niệm mua 2 bức tranh tháp Effel), vậy thôi. Còn nếu bạn muốn biết thêm về mùa đông Paris, về một Paris nồng nàn và say đắm như bạn vẫn nghe, sẽ còn nhiều bức ảnh khác nữa (tấm hình này chẳng hạn, tôi cũng rất thích). Nhưng đó lại là một “câu chuyện” khác mất rồi. Lần sau nhé…

Tháng 5.2007

Y1, nhớ viện Giải Phẫu

Thế là 6 năm sinh viên dài đằng đẵng rồi cũng trôi qua, sắp đến ngày tốt nghiệp. Tôi đã học đại học trong 6 năm, nhiều hơn bất kì một đứa bạn phổ thông nào khác. 6 năm, hơn 2000 ngày, đủ để sốt ruột nhưng cũng đủ để gắn bó, để yêu. Và lúc ra trường sẽ có những nỗi nhớ xen lẫn niềm vui. Biết là ngòi bút không thể chiều lòng cảm xúc, nhưng thôi cứ viết ra, trường Đại học Y Hà Nội trong cảm nhận của riêng tôi.

Y1, nhớ viện Giải Phẫu

Chắc chỉ có sinh viên Y năm nhất mới hiểu cái cảm giác “sướng” khi đi học Giải Phẫu. Vào đại học rồi nhé, trong lúc bạn bè phổ thông dù ở bất cứ trường nào vẫn quẩn quanh với mấy môn cơ bản Toán Lý Hoá, thì ngày từ kì một, dân Y đã được làm quen với môn cơ sở đầu tiên, Giải Phẫu. Tự dưng thấy mình “oai” hơn hẳn, thấy “đúng là sinh viên Y có khác”. Bạn bè hỏi “Học Y vui không, đã được đi mổ chưa?” – Đáp “Mổ suốt rồi”, mặc dù hoàn toàn không phân biệt được phòng mổ Ngoại khoa với phòng phẫu tích xác. Bạn bè lại hỏi (trời ạ cái lũ bạn phổ thông, lâu lâu không gặp nhau là quanh đi quẩn lại toàn những câu hỏi của lần gặp trước) “Đã được vào nhà xác chưa?” – “Nhiều lần lắm rồi” – “Eo ôi sợ thế!” – “Sợ quái gì!”. Một chút “vênh mặt”, hay là những cảm xúc tự hào nghề nghiệp đầu tiên?

Nhắc lại cái chuyện “eo ôi sợ thế” này mới nhớ, mấy bác khoá trên chúa là hay doạ các em năm nhất, dù có thể chỉ vô tình. Hồi đầu năm Y1, một chị bác sĩ (khoá 92-98 thì phải, lão làng rồi) kể: “Mấy hôm đầu học trên xác người, chị không thể ăn được cơm, nhìn miếng thịt là lại liên tưởng đến…” làm tôi cũng run. Về sau mới rõ (ai học Y hẳn là biết), mấy cái xác vô cơ hoá 90% cũng không khác mô hình là mấy. Câu chuyện của bà chị quí hoá được tôi thay đổi chủ ngữ, sửa sang chút đỉnh, đưa vào “giai thoại” để … truyền tụng cho Y bé và sinh viên trường khác nghe. Nếu quen biết một sinh viên Y1, hẳn là bạn cũng đã nghe vài “giai thoại” tương tự.

* * *

Tôi yêu vẻ đẹp tĩnh lặng của viện Giải phẫu. Đó là một toà nhà ba tầng giản dị nằm đối diện vườn hoa Pasteur. Theo tôi, góc phố này thuộc loại đẹp nhất nhì Hà Nội (chắc chỉ sau góc phố Lý Thường Kiệt – Lê Thánh Tông với toà nhà Đại học Quốc gia; quả thật, người Pháp đã để lại cho chúng ta nhiều thứ hoàn toàn xứng đáng gọi là “di sản”). Khác với viện Vệ sinh Dịch tễ bề thế đầu đường Yersin, viện Giải phẫu thu mình lại dưới những tán cây xanh, cửa chính cửa sổ lúc nào cũng đóng im ỉm. Cái bề ngoài “kín cổng cao tường” ấy gợi tôi nhớ tới nhà tu kín một thời sát cạnh bệnh viện Saint Paul. Viện khá rộng, bên trong mang đậm nét kiến trúc Pháp. Các khối nhà nắm tay nhau quây quanh một khoảng sân lát gạch đỏ, trồng mấy cây hoa đại. Khoảnh sân nhỏ nằm lọt thỏm giữa bốn bức tường u uẩn, chẳng hiểu có ai chăm sóc không mà lúc nào cũng thật sạch sẽ và nền nã. Ngồi trong phòng học mở cửa thông ra sân thì dù là đông hay hè đều thấy mát mẻ, dễ chịu. Những buổi trưa vắng người, viện mang dáng vẻ lặng lẽ uy nghiêm của một nhà thờ xứ đạo. Tôi nghĩ dù bên ngoài có bận rộn tấp nập đến mấy (giả dụ như phố Hàng Ngang), thì viện Giải phẫu vẫn là một thế giới khác, cái sân trong viện vẫn luôn yên ắng và thanh bình như thế. Hay đã từng có vài bà ma-xơ âm thầm tu kín ở đây cũng nên.

Chỉ có một thứ phá vỡ sự thanh bình của viện Giải phẫu, đó là lũ sinh viên ồn ã và nghịch ngợm. Sáng sáng, khi mấy cụ đánh cầu lông vừa về và mấy cậu đá bóng dưới lòng đường cũng chấm dứt việc vi phạm giao thông, thì cái cổng bé xíu bên hông viện Giải phẫu lại mở ra, đón 40-50 sinh viên Y1 vào học. 40 sinh viên này sẽ được chia vào hai căn phòng rộng rãi treo đầy tranh ảnh giải phẫu, có 60 phút ngồi thoải mái học lý thuyết, trước khi chen chúc nhau quanh hai chiếc bàn dài trong phòng phẫu tích. Thật lạ là trường Y, dù tuyển sinh không đông (khóa tôi chỉ có gần 500, so với 3500 của trường Bách Khoa), nhưng cái sự phải chen chúc vẫn trở thành một thói quen từ những ngày học Giải phẫu đầu tiên đến những buổi giảng lâm sàng cuối cùng. Y1: chen nhau xem thầy giáo phẫu tích xác; Y2 chen nhau xem cô giáo thực hành điều dưỡng; Y3 chen nhau quanh kính hiển vi soi Plasmodium; sau đi lâm sàng thì lại càng chen mạnh, chen nhau hỏi bệnh bệnh nhân, chen nhau nghe rale phổi, chen nhau nghe giảng, vv và vv. Nghĩ cũng buồn cười, nhưng thôi đã là “triệu chứng kinh điển” thì nên ghi nhớ hơn là thắc mắc băn khoăn.

Học thực tập Giải phẫu “chen chúc” kiểu này rất vất vả. Tổ tôi vì đông quá nên có hôm chen nhau mạnh đến mức đè cả lên bàn phẫu tích xác. Mặt bàn rơi xuống bể formon làm cái thứ hoá chất chẳng mấy thân thiện ấy bắn văng tung toé. Vài sinh viên bị bắn formon vào mắt, phải đi khám tức thì. Thôi thì đều do “ham học” chứ biết trách ai. Chuyện này các khoá dưới chắc là đã nghe kể.

Một lần, bọn tôi đã hỏi thày Quýnh (trưởng bộ môn) tại sao viện không lấy thêm xác cho sinh viên học. Thày nói, một là thiếu xác hiến, hai là nhiều xác cũng không có thùng chứa (là loại thùng inox được thiết kế đặc biệt, có tay quay, quay vài vòng thì cái xác trong bể formon nổi lên, vặn ngược lại là cả bàn phẫu tích lẫn tử thi sẽ chìm xuống). Trong miền Nam thì khác, thủ tục hiến xác rất đơn giản và thuận tiện, hàng năm còn có cả ngày lễ hiến xác (lễ Tri Ân). Trường Đại học Y Dược Thành phố cũng có hơn 70 thùng chứa mà chế độ cũ để lại. Nghĩ nhiều, thấy cái gì miền Nam cũng đi nhanh hơn miền Bắc một bước.

Học lý thuyết hồi đó nhớ nhất thầy Hưng và thầy Huy. Thấy Hưng vẽ rất đẹp. Buổi học đầu tiên trên giảng đường, bài “Các cơ chi trên”, thày dùng phấn đỏ để vẽ cơ và động mạch, phấn xanh vẽ tĩnh mạch, phấn vàng vẽ thần kinh. Không cần giáo án, giảng tới đâu vẽ tới đó, sau hai tiết đã được mấy hình minh hoạ không thua hình vẽ của Netter trong Atlas Giải phẫu là mấy. Tiết sau, giảng lớp khác, thầy xoá đi, vẽ lại từ đầu chứ ít khi dùng hình vẽ sẵn. Tôi cố tập theo thày, thấy mình vẽ xương trụ dài hơn xương cánh tay, vẽ “trám khoeo” trông giống hình vuông, xù xì và mất cân đối kinh khủng. Nhưng đây quả cách học Giải phẫu tốt, dễ nhớ. Thường thì đến lúc kết thúc môn học mới nhận ra mình “biết cách học”. Giá mà được trở lại ngày xưa!

Thầy Huy rất cao, hút thuốc nhiều, dạy chương sọ não, cũng là chuyên gia giảng bằng hình vẽ. Thày rất thuộc mặt học trò, gặp nhau ở trường hay dừng lại bắt tay chào hỏi. Bây giờ thầy Huy chắc vẫn dạy, không biết thày Hưng còn đứng lớp không.

Một kỉ niệm riêng không thể nào quên của năm Y1 là những tối học thêm Giải phẫu với thày Vị. Nhiều sinh viên Y có thể không biết thày, vì thày chỉ là kĩ thuật viên, không giảng lý thuyết bao giờ. Hồi đó tổ quá đông nên mỗi tuần hai tối tôi và hai đứa bạn lại lên viện nhờ thày chỉ thêm (thày vốn là bạn cũ của mẹ tôi từ thuở “hàn vi”). Hình như ban đêm người ta tăng nồng độ formon trong bể ngâm xác, chúi mũi phẫu tích một lúc là hai mắt đã cay xè. Nhưng học tối thì tha hồ mày mò, đỡ phải chịu cảnh “bon chen”, tự thấy ít người may mắn như mình. Thày Vị không chỉ giúp sinh viên, mà cả nội trú, cao học chuyên ngành Ngoại nên rất nhiều kinh nghiệm sư phạm. Thày có lắm mẹo hay để ghi nhớ những kiến thức “học mãi không vào nổi”, bọn tôi đều tấm tắc công nhận là “tuyệt chiêu”. Thày vui, cười rung cả chòm râu cằm lơ thơ. Trước kì thi thực tập, ba đứa lọ mọ mượn được thày cái sọ người trong một tối, thoả chí nghiên cứu mấy cái khe, rãnh, lỗ.

Bây giờ thày Vị không còn nữa. Thày bị ung thư gan, mất tháng 9 năm ngoái. Cả cuộc đời thày gắn bó với viện Giải phẫu, sáng dậy mở cổng, kéo xác lên cho formon bay hơi bớt, phẫu tích trước những vùng sinh viên sẽ học, cuối buổi cặm cụi sửa sang lại “bãi chiến trường” đã bị lũ Y1 đào bới tan hoang. Thày sống một mình trên Hà Nội, vợ con và gia đình vẫn ở dưới quê. Gần hai chục năm, thày âm thầm làm công việc ít được biết đến của mình. Những kĩ thuật viên của trường Y ai cũng âm thầm và nhiệt tình như thế. Ai cũng là những người thày thực sự.



Tháng 2.2006
Dinh Linh