Nghề Y sướng hay khổ?

Nói chung, chúng ta – những kẻ tự nhận là yêu nghề và làm nghề chân chính – vẫn luôn miệng kêu nghề Y khổ. Điều này bắt nguồn từ hiện thực khách quan (áp lực công việc, mức đãi ngộ, thời gian và cơ hội mất mát, bị gièm pha này nọ…) nên ít người phản đối.

Tuy nhiên, nghĩ kỹ, cũng không khổ đến thế.

Tớ thử liệt kê vài lý do “tự sướng”.

1. Tuổi nghề dài

Luận điểm quen thuộc nhất là “Bằng giờ này bạn bè đã có nhà lầu xe hơi rồi!” Tớ không phủ nhận, học nội trú đồng nghĩa với đến gần 30 mới tự nuôi được bản thân. Nhưng tuổi thọ của nghề Y lại dài hơn hẳn. Cầu thủ bóng đá và ca-ve giải nghệ sau tuổi 30. Ca sĩ giảm chạy sô sau tuổi 50. Quan chức về vườn sau tuổi 60. Còn mấy ông bác sỹ cứ như giống hoa lan nở muộn lâu tàn, đến ngoài 70 vẫn sống tốt. Tự cổ chí kim, đó là chân lý. Dù rằng vào tuổi 70, đồng tiền kiếm được có lẽ không nhiều giá trị với bản thân như đồng tiền ở tuổi 30. Nhưng ít nhất, chúng ta sẽ không sợ “về hưu”.

2. Sức khoẻ được đảm bảo

Sống ở Việt Nam rất nhục!!! (Vâng, đúng thế). Cái gì không thuộc chuyên môn của mình là có nguy cơ bị lừa rất cao (động từ này hơi nhẹ). Cụ thể: đi chợ thì bị “bóp”, gửi xe máy thì bị “chém”, oánh phỏm thì bị “thịt”, lo thủ tục hành chính thì bị “hành”, vv và vv… Các thầy thuốc nhà ta có thể yên tâm, dù ngày ngày vẫn đối mặt với nguy cơ bị cảnh sát giao thông chặn đường thu tiền vô lối, dù mỗi dịp thu về vẫn phải đạp cổng trường nộp đơn xin học cho con,… thì khi ốm đau bệnh tật, chúng ta và người thân đàng hoàng có cơ hội được hưởng chất lượng chăm sóc tối ưu nhất trong phạm vi tài chính của bản thân và năng lực của nền y tế nước nhà. Mà sức khoẻ là quan trọng nhất, bao giờ chả thế, mãi mãi như thế!

3. Sự ổn định của thu nhập

Trong môi trường mà ba cách làm giàu nhanh nhất là “tham nhũng”, “buôn lậu” và “đầu cơ”, hiển nhiên bác sỹ làm giàu không dễ. Nhưng tớ tin không bác sỹ nào chết đói cả. Thời buổi khủng hoảng này, kiếm tiền tậu nhà, mua ôtô, đánh “gôn” thì khó; chứ để mua cái máy ảnh bèo, mua điện thoại lướt Phây-búc, mua giấy gấp origami, đi hát và thu âm giọng hát, hay cà phê chém gió thì dư sức. Hệ thống ngân hàng có thể sụp đổ, bong bóng bất động sản sẽ vỡ hoặc không, giá xăng giảm và giá điện tăng,… thầy thuốc nhà ta vẫn ung dung làm việc trong ốc đảo bệnh viện của mình, với thu nhập không lên xuống thất thường như chỉ số chứng khoán. Còn tại sao một người học hành 10 năm – trong đó 4 năm cuối làm việc trung bình 10-14 giờ một ngày, 6-7 ngày trong tuần – lại chỉ có đồng lương bằng một người học 4 năm nhàn nhã, thì không phải là điều nên thắc mắc.

4. Vầng hào quang vẫn luôn luôn toả sáng lung linh

Đó là một ảo giác khó diễn tả bằng lời. Nó đến từ những quan niệm rất đẹp của xã hội Việt Nam về người thầy thuốc, hay từ những hình ảnh hoành tráng trong bộ phim“Anh em nhà bác sỹ”. Khi tự giới thiệu mình học Y, 95% trường hợp bạn sẽ nhận được lời hỏi thăm thân thiện và ánh nhìn trìu mến. Bất chấp tất cả hiện thực phũ phàng, bất chấp bao nhiêu phàn nàn ném đá trên Vnexpress, điểm thi vào trường Y vẫn luôn cao nhất nhì cả nước. Còn nữa, với mặc định nền tảng kiến thức xã hội cực thấp “sáu năm biết mấy kỳ thi, tốt nghiệp đại học còn gì là xuân!”, bạn dường như dễ được cộng đồng ưu ái hơn. “Nhà báo viết blog thì nói làm gì, bác sỹ viết blog mới thật là một bất ngờ nho nhỏ đáng yêu” (hoặc “Không thể ngờ bác sỹ mà lại có cảm xúc như thế”, “Ai bảo bác sỹ chỉ chúi đầu vào bệnh viện nào?”, “Bác sỹ mà cũng biết chụp ảnh hay làm việc này việc nọ”… vv và vv) Dù xã hội đôi khi đánh đập tơi bời, nhìn chung nó vẫn dành cho các thầy thuốc nhà ta rất nhiều ve vuốt ngọt ngào. Dẫu nói một cách chân thành, sau mỗi đêm trực, khi môi khô khốc và lòng trống rỗng, những kẻ trong nghề chẳng bao giờ nhớ tới sự vuốt ve ấy, mà chỉ muốn … về nhà đi ngủ.

Trên đây là vài dòng biện luận xa rời thực tế. Còn bạn nào muốn tìm hiểu thực tế nghề Y, xin tìm đọc “Chuyện tôi tình tôi”, giai phẩm ăn khách nhất mùa hạ 2012, do một đồng nghiệp của tớ viết.

Tháng 7.2012

Âm thanh của C3

Phòng cấp cứu tim mạch C3. Một trong những đêm trực cọc ba cuối cùng. Tôi dậy khám bệnh nhân và khi về giường không muốn ngủ tiếp nữa. 4 giờ 30 sáng, tôi nằm yên lắng nghe những âm thanh của C3.

Bạn có nghĩ rằng mỗi khoa phòng trong bệnh viện đều có điểm đặc trưng hay không, tựa như mỗi người  chúng ta có một “cá tính riêng”? Rất khó mô tả “cá tính” ấy, chỉ biết rằng với những bệnh phòng “cá tính” mạnh, ngay khi bạn bước chân vào, thì mọi thứ thuộc về bệnh phòng ấy sẽ đồng thời ập đến với bạn trong chưa đầy 10 giây đồng hồ. Tất cả thấm vào từng giác quan, len lỏi vào bộ não bạn, tác động đến suy nghĩ của bạn, khiến bạn dù nhắm mắt vẫn biết được mình đang ở đâu. Tôi nhớ khoa điều trị tích cực (ICU) ở Bạch Mai, với những tiếng “tít tít” của máy thở đã đi vào giấc mơ của tôi trong các đêm trực thời sinh viên. Bây giờ khi xem T.V, nghe tiếng “tít tít” quen thuộc ấy, là tôi biết ngay truyền hình đang chiếu về khoa ICU. Tôi nhớ phòng khám cấp cứu ngoại Việt Đức, với mùi vị không thể nhầm lẫn của phòng lưu; nó là hỗn hợp của mùi máu, mùi xăng dầu, mùi đất cát dính trên người bệnh nhân tai nạn giao thông, và mùi mồ hôi của gần 1000 con người vào ra mỗi ngày (tính cả nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà). Tôi nhớ cả khoa sơ sinh ở viện Nhi Trung ương, với tiếng máy lạnh chạy ro ro, tiếng bước chân của các chị y tá thoăn thoắt mà không ồn ào, cùng tiếng trẻ sơ sinh oe oe nhè nhẹ trong từng lồng kính chiếu ánh sáng trắng vàng,…

Thế vào lúc 4 giờ 30 sáng, bạn có thể cảm nhận được gì từ “cá tính” của nơi mình đã gắn bó hơn 100 buổi trực? Đêm khuya tĩnh lặng, tôi nghe từng âm thanh riêng lẻ, hình dung nó phát ra từ đâu, hình dung ra cả bệnh nhân đang nằm cạnh đó.

Đầu tiên là những tiếng tít kéo dài của bơm tiêm điện báo sắp hết thuốc, có lẽ phát ra từ giường số 3, nơi một bệnh nhân được truyền dobutamine ngày này qua ngày khác. Chị y tá dường như cũng đã nghe thấy tiếng tít ấy – một âm thanh chẳng dễ chịu với chị chút nào. Lát nữa thôi chị sẽ ngao ngán ra thay thuốc và tự hỏi bao giờ thì quy trình truyền thuốc – hết thuốc – thay thuốc này mới kết thúc. Khi người bệnh ra viện, hay khi người bệnh tử vong?

Một âm thanh khác, đều đều buồn tẻ, là tiếng “tíc tíc” của máy monitor theo dõi. Máy khá mới (so với những thiết bị khác của C3), nhưng đã kịp mắc một bệnh mạn tính là luôn luôn bị nhiễu khi cắm điện. Muốn tìm sóng P trên monitor, muốn phân tích cơn tim nhanh là nhanh thất hay nhanh trên thất, muốn tìm hiểu những sóng kì quái xuất hiện trên màn hình là do nhiễu hay do … rung thất,… chỉ có cách duy nhất là rút phích cắm ra để máy chạy bằng pin. Tuy nhiên, điều quan trọng là máy vẫn sốc điện tốt. Trong đêm trực này, tôi đã sốc điện hai lần cho bệnh nhân rối loạn nhịp thất giường số 14. Người bệnh đang được truyền duy trì amiodarone. Tiếng “tíc tíc” đều đều cho biết nhịp tim của ông vẫn ổn.

Máy móc của C3 rất dễ kêu, vì một nguyên nhân nào đó. Máy thở của bệnh nhân giường số 7 đang phát ra những chuỗi “tít tít tít te” tẻ ngắt. Suốt buổi tối, tôi đã cố gắng tắt âm thanh đó đi mà không được. Có thể đường ống dẫn khí bị rò, có thể bộ phận làm ẩm bị hỏng, có thể tôi không biết cách cài đặt thông số hợp lý. Dù sao thì bệnh nhân vẫn nằm yên. Đã thở máy hơn 2 tuần, đã thử rút ống rồi phải đặt ống lại, đã mở khí quản, dường như người bệnh (Glassgow 14 điểm) tạm hài lòng với chiếc máy cùng các âm thanh đã trở thành quen thuộc kia. Chỉ có thầy thuốc là bất lực.

Tôi nghe tiếng lăn trở của những bệnh nhân khó ngủ. Âm thanh rất gần, chắc phát ra từ giường 21, nơi hai bệnh nhân già đang nằm “úp thìa” trong đống ngổn ngang chăn bông và gối. Một bệnh nhân phình tách động mạch chủ ngực, đã được truyền 3g Perfalgan chỉ trong ngày hôm nay. Có thể chỉ ít phút nữa thôi, sẽ xuất hiện âm thanh tôi không muốn nghe, tiếng rên vì đau của người bệnh. Cùng với đó là tiếng vỗ nhè nhẹ của bà vợ lên ngực bệnh nhân – tiếng vỗ mà chúng ta “cảm nhận” nhiều hơn là “nghe thấy”.

Còn gì nữa? Đêm nay chắc phòng khám cấp cứu ít bệnh nhân, nên tôi không được nghe tiếng xe điện chuyển bệnh nhân từ khoa A9 vào. Có lần nội trú đã bình bầu đấy là âm thanh đáng sợ nhất trong mỗi đêm trực. Nó đến vào lúc nửa đêm, khi mờ sáng, giữa lúc bạn đang mệt mỏi nhất, không muốn làm việc nhất. Mắt díp lại, nhịp tim chậm, hoạt động trao đổi chất ở mức tối thiểu… Mặc kệ thôi, sớm muộn gì thì bạn cũng phải lồm cồm bò dậy, bởi sau tiếng xe điện sẽ là tiếng lách cách của cáng chạy trên nền gạch, cùng với hàng loạt âm thanh nhốn nháo khác mà phòng khám “nhân tiện” chuyển vào. Bạn mở mắt, hình dung cảnh các em sinh viên đang đẩy bệnh nhân trên cáng, theo sau là người nhà bệnh nhân, lo âu, căng thẳng. Y tá thì tất tả chạy đi đặt đường truyền. Đố ai tiếp tục ngủ được!

Phòng C3 tim mạch là một nơi lạ kì, bởi bên cạnh những phút cấp cứu căng thẳng tột độ, đôi lúc nó đem lại cho chúng ta cảm giác “lao xao” của các phiên chợ sớm. Vài bệnh nhân bắt đầu thức giấc, chuyện trò nho nhỏ. Những tiếng ngáp, vươn vai uể oải. Tiếng dép khua loẹt quẹt của người nhà đưa bệnh nhân đi vệ sinh. Tiềng xầm xì buôn chuyện phát ra từ dãy giường xếp kê dọc hành lang. Vài tiếng thở dài thưa thớt… 30 phút nữa, có thể nghe được tiếng rao vặt bán nước sôi, bán trứng luộc, bán bánh mì hay xôi nóng… Mọi người sẽ ùn ùn kéo ra mua. Trong khi bác sỹ trực bụng đói cắm cúi bên máy tính hoàn thành báo cáo giao ban…

* * *

Với tôi, mỗi âm thanh ở phòng C3 ít nhiều gì cũng đem lại cảm giác “bất an”. Nhưng  nếu C3 êm đềm cả đêm như khoa Cơ Xương Khớp, liệu nó có thân thiết và gắn bó với nội trú tim mạch đến thế?

4 giờ 30 sáng. Tôi nghe từng âm thanh nhỏ nhất, và biết mình đang ở C3, phòng C3 của chúng tôi, chứ chắc chắn không phải một nơi nào khác.

Tháng 3.2011

Đinh Linh

Lễ tốt nghiệp

Bài phát biểu trong ngày tốt nghiệp bác sỹ nội trú.

 

Kính thưa …

Hôm nay, tôi rất vinh dự được đại diện cho các bác sỹ nội trú khóa 31 phát biểu cảm tưởng trong ngày tốt nghiệp. 

Thưa các thầy cô và các bạn, những ngày đầu tháng 1 năm 2007 là những ngày mà tôi sẽ không bao giờ quên. Đó là ngày chúng tôi nhận kết quả đỗ kì thi tuyển bác sỹ nội trú bệnh viện. Đó cũng là thời điểm chúng tôi chính thức bước chân vào một chặng đường mới nhiều khó khăn thử thách nhưng cũng tràn đầy cảm xúc. Bác sỹ nội trú là một loại hình đào tạo đặc thù và truyền thống của ngành Y. Nhưng hơn hết, vượt ra ngoài mọi bằng cấp, chứng chỉ, tên gọi “bác sỹ nội trú bệnh viện” đã hàm chứa bao nhiêu tự hào, là niềm mơ ước và phấn đấu của hầu như mọi sinh viên Y khoa khi tốt nghiệp. Đây là niềm tự hào được xây dựng bởi rất nhiều thế hệ thầy thuốc đi trước, từ những khóa nội trú đầu tiên. Chính vì thế, đỗ nội trú là niềm vinh dự nhưng cũng là thử thách đối với mỗi chúng tôi.

Vậy mà ba năm học thấm thoắt đã trôi qua. Trong mỗi chúng ta ngồi đây, hẳn vẫn còn vẹn nguyên kí ức về những ca lâm sàng bỡ ngỡ đầu tiên, sự căng thẳng trong những đêm trực đầu tiên, hay niềm vui khi lần đầu tiên điều trị một ca bệnh thành công. Ba năm coi bệnh viện là nhà, chúng tôi đã học tập và làm việc với niềm tin mình đang được rèn luyện trong môi trường đào tạo y khoa tốt nhất, bên cạnh những người thầy giỏi nhất. Dù khó khăn vất vả, dù nhiều lúc thất bại, và cả nhiều lần trả giá đau lòng, nhưng hôm nay chúng tôi cảm thấy vô cùng tự hào vì đã hoàn thành tốt chặng đường gian nan đó.

Ba năm học vừa qua chỉ là những bước chập chững đầu tiên trong sự nghiệp y khoa. Tuy đầy vinh dự, nhưng “nội trú” vẫn là danh từ chỉ các bác sỹ đang trong quá trình học hỏi để tự hoàn thiện và tiến bộ hơn. Ngày hôm nay, khi chính thức không còn được gọi là “bác sỹ nội trú” nữa, chúng tôi hy vọng chất lượng chuyên môn của người thầy thuốc đã trưởng thành không chỉ thể hiện qua tên gọi bên ngoài, mà những kinh nghiệm và kiến thức tích lũy được sẽ chuyển thành năng lực và bản lĩnh nghề nghiệp bên trong, với một quá khứ từng là “nội trú”.

Trong niềm vui hân hoan của ngày tốt nghiệp ra trường, thay mặt các bạn, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô – những người thày, người anh, người đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ chúng em suốt ba năm qua. Các thày cô đã truyền dạy cho chúng em kiến thức, phương pháp tư duy, tình yêu nghề, và hơn hết là lòng nhân ái đối với mỗi bệnh nhân. Những kiến thức sách vở, hay các kĩ thuật chẩn đoán và điều trị hiện đại rồi sẽ có lúc lỗi thời, chỉ có lòng yêu nghề và sự đồng cảm cùng người bệnh là còn mãi, để làm động lực cho chúng em vững bước đi trên con đường đã chọn. 

Cuối cùng, xin cảm ơn tất cả các bạn nội trú khóa 31 đã cho tôi niềm vinh dự được thay mặt các bạn phát biểu cảm tưởng trong buổi lễ này. Cảm ơn các bạn đã cùng tôi đi hết một chặng đường chông gai, để chuẩn bị đi tiếp một chặng đường còn chông gai hơn. Đó là con đường trở thành người bác sỹ có đủ năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, để luôn xứng đáng với danh hiệu “bác sỹ nội trú bệnh viện”.

 

Hà nội, tháng 1.2011

 

Rút ống

“Rút ống” ở đây là ống nội khí quản (tracheal tube). Khi trước mình rất ham đặt ống, có ca cấp cứu nào cũng xin các anh chị khóa trên cho làm, để “lên level”. Nhưng từ năm thứ ba trở đi lại thích rút ống hơn. Kì công đặt một cái ống vào làm gì, nếu sau này không thể rút được nó ra? Đặt ống là bước đầu tiên của quá trình hỗ trợ thông khí xâm nhập, rút ống hoàn tất quá trình đó; có thể coi như một thắng lợi, dù đôi khi rất nhỏ nhoi, của thầy thuốc và bệnh nhân trước bệnh tật.
Từ ngày mình quay lại C3 đến giờ (khoảng 3-4 tuần), ở C3 đã rút ống được 5 ca. Khi người ta phải đếm số lượng, nghĩa là điều đó rất được chờ đợi và ghi nhớ. Giang hồ vẫn đồn thổi một câu đáng sợ “Vào C3, ra … Văn Điển”, chung quy tại bệnh nhân C3 nặng quá. Hồi mình học nội trú năm nhất, hầu như toàn đặt ống và sau đó người bệnh tử vong, hiếm khi rút được ống. Bây giờ, 5 ca trong 4 tuần là con số không lớn, nhưng so với thời gian trước thì cũng đáng kể.
Đây là một tín hiệu vui. Khoảng nửa năm nay ở C3 dùng máy thở Savina thay cho loại máy cũ LifeCare (mà anh em vẫn gọi đùa là máy nhồi khí). Dân tim mạch dù kiến thức về máy thở rất bập bõm so với dân hồi sức, nhưng ít nhất cũng có dịp thực hành những “bài” thông khí nhân tạo cơ bản. Dạo này C3 có nhiều em điều dưỡng viên mới, trẻ khỏe nhiệt tình, việc chăm sóc và theo dõi bệnh nhân thở máy cũng tốt hơn. Nói chung, rút được ống khiến bác sỹ tự tin hơn khi chỉ định thông khí nhân tạo sớm cho người bệnh.
Trong 5 ca rút ống, có 2 ca lúc đặt ống mình đã nghĩ là sẽ tử vong. Thế mà cuối cùng lại sống khỏe. Từ đây rút ra 2 bài học. Một là, lắm khi chưa thể chẩn đoán bệnh, không biết diễn biến bệnh sẽ ra sao, nhưng vẫn cần cố gắng hết sức để làm những điều tốt nhất cho bệnh nhân, (ít nhất là không có bước đi nào sai lầm), cộng thêm sự kiên trì và theo dõi sát sao, đôi khi may mắn sẽ mỉm cười và người bệnh sẽ qua khỏi. Hai là, 2 ca “ăn may” có lẽ do hiểu biết hạn chế của bản thân. Trong y học, may mắn là thứ cuối cùng người thầy thuốc nghĩ đến. Thầy thuốc cần tiên lượng chính xác thay vì ngồi đợi bệnh nhân tự vượt qua. Nếu như thực sự kém cỏi thì rất cần ai đó chỉ ra sự kém cỏi ấy của mình. Tiếc là việc nọ kéo việc kia, chưa có thời gian ngồi nghiên cứu kĩ lưỡng lại hồ sơ bệnh án.
Tháng 12.2010
Dinh Linh

Trực bệnh viện Đại học Y

Trực bệnh viện Đại học Y

Tôi đang trực bệnh viện Đại học Y Hà Nội, không biết là đêm trực thứ bao nhiêu của năm thứ ba nội trú. Một đêm trực quá bình lặng, nếu so với phòng C3 luôn “sôi nổi” và ồn ã. Không mấy người thích trực trường Y, có lẽ vì buồn tẻ quá. Mà lũ nội trú tụi tôi vốn toàn loại “ngựa non”, thèm cảm giác adrenaline sôi lên trong máu của những ca sốc tim, suy hô hấp, hay cấp cứu ngừng tuần hoàn.

Bệnh phòng sạch sẽ và lặng lẽ. Khoảng 5-6 bệnh nhân đến khám. Không quá ít, không quá nhiều. Tôi tiếp đón từng người với sự chậm rãi dễ chịu ngấm ngầm. Ở đây, nơi “yên bình” này, chúng tôi – thầy thuốc và bệnh nhân – có thể cư xử với nhau “đàng hoàng” hơn một chút. Nghĩa là thầy thuốc không phải to tiếng hay gắt gỏng, còn bệnh nhân tự dưng mất hẳn thói quen thì thào dấm dúi vào tay bác sỹ vài tờ tiền xanh đỏ. Tôi nhìn người bệnh mới nhất của mình bắt đầu được y tá cắm chai truyền dịch – một ca sốt phát ban, xét nghiệm máu không có gì đặc biệt, có lẽ sẽ ngủ đêm tại nhà sau khi hạ sốt – và tự hỏi điều gì thực sự quan trọng đối với mỗi bệnh nhân? Mọi sự so sánh đều khập khiễng, dĩ nhiên trong từng hoàn cảnh cụ thể cần cố gắng hết sức để đem lại lợi ích cho người bệnh. Nhưng nếu lợi ích đó là tối thiểu, mặc cho những nỗ lực tối đa, liệu có thể không buồn? Một đêm trực C3, cả lũ nội trú cũ mới đã hì hục cấp cứu bệnh nhân trong 2 tiếng, đặt tất cả những gì có thể đặt (nội khí quản, máy tạo nhịp, đường truyền tĩnh mạch trung tâm), chỉ để 10 phút sau đó y tá lặng lẽ rút hết những gì có thể rút. Không phải chỉ một lần chúng tôi đã nhìn thấy kết cục không thể đảo ngược. Khi cần chọn lựa giữa sự sống và cái chết, câu trả lời dường như đơn giản. Thực tế lâm sàng đôi khi chẳng giản đơn như thế.

Tôi vẫn thích phòng cấp cứu C3, bởi những va vấp, sương gió của nó đem lại các trải nghiệm không thể đong đếm. Nhưng bao nhiêu thứ “hoành tráng” mà lũ nội trú tụi tôi vỗ ngực tự hào, liệu có đem lại cho người bệnh sự thanh thản, như bệnh nhân sốt virus kia đang thanh thản nằm nhìn từng giọt dịch truyền chậm rãi rơi.

Năm thứ ba nội trú, đôi lúc vẫn có cảm giác chưa thể hiểu hết công việc mình đang làm.

Tháng 4.2010

“Those were the days, my friends…”

Hôm trước tụ tập liên hoan nội trú, để các anh chị năm cuối “giải đen” sau một kì thi vất vả, còn mấy em newbie năm đầu thì ra mắt các “đại ca”. Lâu lâu rồi mới có một “Resident Night” vui đến thế. Nhưng vài người không hứng thú tham gia. Mình với Yến B (nội trú khóa 29, đã ra trường được 1 năm), đều chẳng hiểu tại sao. Nghĩ lại, mình bây giờ không thân thiết với các anh chị em nội trú thì thân với ai. Công việc bận rộn, ở viện suốt ngày, thời gian chăm sóc cho gia đình chẳng có. Bạn bè thân thiết đứa đi nước ngoài, đứa lập gia đình, hoặc ai cũng bận bịu công việc sự nghiệp riêng, đâu phải lúc nào cũng gặp được nhau. Chỉ có nội trú, sáng cùng giao ban, trưa cùng ăn, chiều cùng trực buồng (hoặc cùng “đùn đẩy” nhau chuyện trực buồng), tối xuống phòng cấp cứu Tim mạch, chen nhau làm thủ thuật, đêm trực cùng chiến đấu ở C3, trông bệnh nhân nặng. Khi bệnh viện là nhà, thì nội trú như những anh chị em ruột thịt.

Nhớ hồi mình “còn bé”, tập làm thủ thuật, có mấy anh chị lớn đứng xung quanh cổ vũ bình luận (chỉ trỏ), run nhưng cũng vững tâm vài phần. Hay những tối thường trú, vào phòng bác sỹ trực thấy đông nghịt người, đứa ngồi internet tìm tài liệu, đứa chat chit YM, mấy đứa buôn chuyện; ngồi phịch xuống ghế than thở về một ca lâm sàng, để cả nhóm có dịp “mổ bò” sôi nổi. Nhớ những buổi trưa sinh hoạt chuyên môn theo kiểu “vừa học vừa ăn”, ai cũng buồn ngủ díp cả mắt, cứ phải đợi cơm hộp mới tỉnh ra. Nhớ nhất là những tối bệnh nhân nặng vào cấp cứu, nhân viên của viện hết giờ hành chính đi về hết, chỉ có đám nội trú hì hụi làm, dù “outcome” cực kì thấp. Và còn bao nhiêu buổi cà phê cà pháo, ngoài và trong giờ hành chính; các tiết mục nhậu nhẹt, cá độ này nọ (ví dụ: “Điện tâm đồ này anh đảm bảo tắc đoạn 1 LAD, nếu sai anh sẽ mời chú bữa bia”). Ai bảo cuộc sống nội trú là buồn tẻ!

Có biết bao việc để nội trú tâm sự, chỉ dạy cho nhau. Từ cách khám bệnh nhân, cách cho thuốc, cách chọc dịch màng tim hay đặt máy tạo nhịp, cách xin chữ kí để lần nào thày cũng duyệt, đến cách làm kiểm thảo tử vong, cách giải thích tình trạng nặng cho gia đình người bệnh, cách tự bảo vệ mình về mặt pháp lý trong các ca “nhạy cảm”, vv và vv… Hồi trước Kiddoc (nội trú khóa 30) thân với anh Tuấn A (khóa 28) một phần cũng vì anh Tuấn là người đầu tiên “cầm tay Kid dạy chọc dịch màng phổi”. Khi mình mới vào nội trú hay “lon ton” đi theo bà Yến B trong các đêm trực, học được lắm “võ” hay. Dạo ấy cám ơn Yến ghê gớm, vì cái gì cũng được tự làm, chị chỉ đứng “đỡ đầu”. Bây giờ mới biết nội trú lớn có “trẻ con” đi theo thật sung sướng và nhàn nhã (“trẻ con” chăm chỉ làm hết các việc tay chân rồi)… Thôi không tiết lộ nữa, để từ từ còn “chăn” mấy em khóa mới.

Rồi sau này, mỗi đứa sẽ theo một ngã rẽ khác nhau, ai biết được. Nhưng như chị Yến B nói với các em nội trú khóa 34 hôm trước (bên nồi lẩu): “Bây giờ bọn em ra đường, một là thủ thế, hai là xuất chiêu. Khi về với các anh chị nội trú Tim mạch thì không bao giờ cần nghĩ đến hai chuyện đó!”


Tháng 10.2009

L.B.

Chuyện kiểm thảo tử vong

Thỉnh thoảng lũ nội trú đang lảng vảng ở phòng C3 (Cấp cứu Tim mạch) lại bị bà y tá trưởng kéo vào phòng hành chính bắt làm kiểm thảo tử vong, theo đúng nguyên tắc “Cứ thấy đứa nào kí bệnh án cuối cùng thì bắt đứa đó kiểm thảo”. Phải có “nguyên tắc” vì công việc này chẳng ai muốn làm. Thay cho autopsy (khám nghiệm tử thi) vốn là điều bắt buộc, người ta yêu cầu phải điền đủ 3 trang A4 về thành phần kíp trực, diễn biến bệnh, nguyên nhân tử vong, thái độ của nhân viên y tế, vv và vv… mà thường là cuối cùng sẽ lẫn trong đống hồ sơ cũ kĩ không ai thèm đọc. Bệnh nhân không cứu lại được nữa, những vấn đề chuyên môn (và cả ngoài chuyên môn) thì tua trực cũng tự rút kinh nghiệm rồi. Ấy là chưa kể lắm bệnh nhân nặng nằm tại khoa cả tuần, mình vừa nhận trực thì tử vong, sau vài phút cấp cứu có đủ để hiểu rõ diễn biến bệnh và nguyên nhân chết? Thành ra tờ giấy kiểm thảo tử vong bỗng mang tính hình thức kinh khủng. Kết quả, ông nội trú nào cũng ngồi ngoáy vội vài dòng chung chung về diễn biến bệnh giai đoạn cuối để bà y tá mẫn cán hoàn thiện hồ sơ nộp cho phòng lưu trữ.

Hài hước nhất là phần “Thái độ của nhân viên y tế”, gồm các mục như: đón tiếp bệnh nhân thế nào, chẩn đoán bệnh thế nào, điều trị bệnh và cấp cứu ra sao, lúc bệnh nhân tử vong thì thế nào,… Phải viết về mình cũng khó ghê, không lẽ tự chê bai (có ai bắt Conrad Murray làm kiểm thảo cho cái chết của Michael Jackson)? Thế nên cứ nội trú lớn dạy nội trú bé, học thuộc khoảng 10 tính từ “đẹp đẽ” để điền vào giấy cho nhanh lẹ. Mọi biên bản đều theo cùng một khuôn. Đón tiếp người bệnh: ân cần niềm nở. Chẩn đoán bệnh: nhanh chóng, chính xác. Chăm sóc: chu đáo, tận tình. Điều tri: tích cực, đúng phác đồ. Cấp cứu: kịp thời, tận tâm. Khi bệnh nhân tử vong: cảm thông, chia sẻ. Đại khái thế. Nếu không theo mẫu mà tự ngồi “nghĩ” ra từng đó “mỹ từ”, mà lại phải khác nhau, thì chẳng đơn giản đâu nhé.

Một lần ngồi kiểm thảo tử vong, bỗng dưng hỏi nếu tất cả những gì mình viết về thái độ của nhân viên y tế là đúng, thì người bệnh có tử vong không, hay thực sự tiến trình bệnh là không thể đảo ngược dù chúng ta đã cố gắng hết sức? Nếu việc chăm sóc và điều trị hoàn hảo như thế, tại sao người bệnh vẫn chết? Lan man thêm một chút, thử chọn những “xú từ” thay cho “mỹ từ”. Như là, đón tiếp bệnh nhân: cáu kỉnh, gắt gỏng; chẩn đoán bệnh: chậm trễ; chăm sóc: lơ là, không chu đáo; điều trị: thiếu tích cực, không theo phác đồ chuẩn; cấp cứu: chậm chạp, thiếu phương tiện,… Đôi lúc thấy mấy “xú từ” này có vẻ quen quen…

Mỗi ca tử vong, dù ít dù nhiều, cũng là một thất bại của người thày thuốc – thất bại của cả quá trình điều trị, chứ không riêng gì giai đoạn cuối. Người bệnh đến với phòng Hồi sức cấp cứu đã như ngọn nến sắp tàn, những cơ hội để được sống lâu hơn, sống tốt hơn (nếu có) đã bị bỏ lỡ rồi. Nói như cuốn Washington, “The goals of critical care medicine are to save the lives of patients with life-threatening but reversible medical or surgical conditions and to offer the dying a peaceful and dignified death” (Nhiệm vụ của bác sỹ hồi sức là cứu sống những bệnh nhân còn có thể cứu, và đem đến cho người hấp hối một cái chết yên bình và xứng đáng). Thôi thì cố gắng hoàn thành cái nghĩa vụ nhỏ nhoi đó vậy. Để người bệnh được ra đi thực sự xứng đáng, để mỗi lần ngồi kiểm thảo tử vong không phải ân hận hay dằn vặt.

Tháng 8.2009

Dinh Linh

Dưới chân dốc

Dạo này đêm nào cũng nằm lẩm nhẩm “It’s Been A Hard Day’s Night” nên ít thời gian viết lách hay ngồi kể lể dông dài. Hôm nay gặp một bệnh nhân quen quen, thấy chìa ra giấy hẹn “Về nhà uống thuốc đều theo đơn. Ăn nhạt. Một tháng sau đến khám lại, kiểm tra PT, INR”. Đúng nét chữ của mình . Công nhận bệnh nhân thật “ngoan” và có trách nhiệm với sức khoẻ. Ah, mà thế nghĩa là đã đi viện được hơn một tháng rồi!

Thôi, ngồi kể vài ba chuyện nho nhỏ về cái tháng đầu tiên này, nhân một ngày cuối tuần…

1. Ca shock điện đầu tiên

Chiều hôm trước chị Cẩn Nội trú 28 nói đùa “Tối nay về nhớ rửa tay thật sạch vài lần nhé”. “Thằng bé” chả hiểu gì (chắc là vì thế nên hình như cả tối không thèm … rửa tay) . Sáng hôm sau cho thuốc xong xuôi, chú Hùng trưởng khoa và chị Cẩn gọi mình vào phòng thủ thuật để làm shock điện phá rung nhĩ. Lần đầu tiên khá hồi hộp, ấn mạnh tay quá thì sợ bệnh nhân bị điện đốt bỏng da, mà nhẹ quá e không đủ cường độ. Bệnh nhân là một phụ nữ khoảng 50 tuổi, có tiền sử bệnh van tim. Trước khi gây mê, mình nắm lấy tay cô ý để an ủi, tự cảm thấy bản thân còn lo lắng hơn. 3-2-1, “bụp” một phát, thế là xong! Bệnh nhân chỉ hơi nảy người một chút chứ không “bay” lên khỏi giường như trong phim xi-nê . Monitor hiện kết quả: vẫn còn rung nhĩ, shock điện thất bại. Coi như người bệnh sẽ phải chung sống với tình trạng loạn nhịp tim cả đời. “Sư phụ” Cẩn an ủi “Ca này khó, chị đoán shock điện 90% là thất bại nên mới dí cho em làm”. Thôi, lần sau nhớ rửa tay thật kĩ cho nó “son”!

2. Lần đầu tiên “biết sợ”

Chuyện này nói ra hơi “xấu hổ” . Hình như là tuần lễ thứ hai. Mình vẫn ngu ngơ và nói chung, khá là tinh tướng . Hôm đó vừa học được “võ” cho thuốc điều trị bệnh mạch vành. Cả chiều “thằng bé” ngồi mần mò sách vở, articles,… rất lấy làm hãnh diện . 19h, đảo qua C2, gặp ngay một bệnh nhân đau ngực mới nhập viện, mình chẩn đoán sơ bộ là cơn đau do bệnh mạch vành (nói chung, ở Viện Tim mạch này, 80% bệnh nhân đau ngực là do mạch vành). Bác sĩ trực đã khám nhưng … chưa cho thuốc , thế là “thằng bé” định “nện” ngay thuốc chống đông (Aspegic, Plavix) theo đúng guidelines (tự tin ghê gớm ). Ra phòng hành chính thấy anh Văn (bác sĩ trực) đang trầm ngâm đắn đo. Anh bảo ca này hơi mơ hồ, vẫn còn băn khoăn không biết là bệnh mạch vành hay phình tách động mạch chủ; bây giờ tốt nhất phải cho chụp CT Scanner để chẩn đoán xác định (nếu đúng phình tách ĐMC thì chống chỉ định với thuốc chống đông ). “Thằng bé” sợ xanh mắt mèo , chả dám ho he gì, đành ngồi đến tận 23h chờ phim CT. Kết quả: “Phình động mạch chủ ngực từ chỗ tách của động mạch dưới đòn trái đến ngang mức chia động mạch thận”.

Hú vía! Mặc dù nếu gặp đề thi “Chẩn đoán phân biệt các nguyên nhân đau ngực” thì sinh viên Y6 nhắm mắt cũng đọc làu làu nào là: do bệnh mạch vành, do phình tách ĐMC, do tràn dịch màng tim, do viêm cơ tim, do đau thần kinh liên sườn, vv và vv… Nhưng thực tế mới thấy rõ tư duy của mình cứng nhắc đến mức nào. Đúng thật, “Mọi lý thuyết đều chỉ là màu xám – Và lâm sàng vĩnh viễn xanh tươi!”

3. Nỗi buồn đầu tiên

Do vài nguyên nhân khách quan mà một đứa mới tập toẹ như mình cũng được phân công điều trị cả một phòng 4 giường bệnh (khoảng 10-15 bệnh nhân, chừng đó đủ tưởng tượng bệnh nhân “nằm ngồi” ra sao ). Tất nhiên là vẫn có chú Hùng đi theo “bảo kê”, nhưng nói chung trách nhiệm của “thằng bé” là rất lớn. Hôm nhận phòng, mình chú ý ngay bệnh nhân T., 24 tuổi, vì tập bệnh án dày cộp (chứng tỏ nằm viện đã lâu). Cậu ta là sinh viên Đại học Bách khoa năm cuối, người cao ráo, đẹp giai. Có điều phát hiện bệnh muộn nên chức năng tim đã giảm nhiều. Cách khả dĩ nhất là mổ thay van tim, nhưng nặng thế này cũng chả phẫu thuật viên nào dám “sờ” vào. Hơn nữa thay van tim mất 30-40 triệu, bệnh nhân không có thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) nên không đủ tiền. Cô y tá trưởng cứ trách mãi (chắc là vừa giận vừa thương) tại sao lại không mua BHYT để bây giờ phải khổ. Mình lạ gì, sinh viên có đứa nào thèm để ý chuyện bảo hiểm đâu .

Có một lần bà mẹ sụt sịt đến xin cái giấy chứng nhận tình trạng sức khoẻ để T. được hoãn bảo vệ luận văn tốt nghiệp. Mình viết giấy mà còn thấy cay đắng, không hiểu cha mẹ bệnh nhân nghĩ gì

Khoảng 1 tuần sau hôm xin giấy ấy, gia đình bệnh nhân xin về. Lý do chính là hết tiền (khi đó vẫn nợ viện khoảng 3-4 triệu). Kể ra thể trạng bệnh nhân chưa nặng (vẫn đi lại, cười nói được, tối tối lũ bạn đại học vẫn kéo vào cười đùa ầm cả bệnh phòng), nhưng cái bệnh này chỉ có tệ dần đi chứ không thể tiến triển được . Trước đó mình dùng một đợt vận mạch thật “trâu bò”, nhất thời cải thiện được tình trạng suy tim chút ít; khi ra viện tạm coi là “có đỡ”. Cảm giác bất lực, thôi đành “khuất mắt trông coi” vậy. Không biết hiện giờ bệnh nhân ra sao.

* * *

Còn mấy mẩu chuyện mang màu sắc tươi sáng và “hoành tráng” hơn, nhưng mệt rồi nên hôm khác ngồi gõ tiếp vậy. Có thể chỉ vài tháng nữa, mình đọc lại mấy dòng này và thấy “buồn cười” cho cảm xúc của những ngày đầu tiên ấy . Nhưng cứ coi entry này như một cách lưu giữ thời gian. Bởi vì một tháng qua ở bệnh viện vẫn là vui, ít nhất còn thấy kiến thức mình học gần gụi và “có ích”. Còn đêm về hát lầm nhẩm đôi chút, có sao đâu…

It’s been a hard day’s night, and I’ve been working like a dog
It’s been a hard day’s night, I should be sleeping like a log

Tháng 4.2007

Quán cơm Bà Béo

Đợt vừa rồi, vì lý do học thi nội trú, tôi có khoảng hơn một tháng ăn trưa (và nhiều khi ăn tối nữa) ở một quán cơm bụi trong trường, gần khu E3, E4.

Nơi tôi hay ăn được biết đến với một tên gọi hết sức phổ thông và dễ nhớ: “quán Bà Béo” (trên đời này có biết bao nhiêu “quán Bà Béo”, nhưng trong trường Y chỉ có một). Hầu hết những kẻ mắc hội chứng ÔTNT trầm trọng đều chọn ăn ở đây. Chúng tôi suốt ngày chạm mặt nhau trên giảng đường, trong thư viện, trong quán nước, nên cũng chẳng ngạc nhiên khi đến giờ ăn trưa lại ngồi chung một bàn, hoặc trò chuyện với từ bàn này qua bàn khác. Cái viễn cảnh khoác áo blouse trắng (thường là phanh ngực “cho oai”) ra căng-tin bệnh viện, vừa ăn vừa thảo luận về những ca bệnh khó xem ra có vẻ khá hấp dẫn và “pro”. Nhưng trước đó, cần phải trải qua những ngày ăn trưa trong cái quán chật chội này, với các chủ đề kém thi vị hơn rất nhiều như: “Học Giải phẫu dài và khó quá!”, “Phần biến chứng của nhồi máu cơ tim có phải nêu mục X, Y, Z không nhỉ?”, “Nào, tranh thủ vừa ăn vừa ôn lại ‘Chỉ định và chống chỉ định của thuốc tránh thai’ ”.

Thực ra, trường Y có truyền thống “ăn cơm theo khoá học”. Những quán ăn khu E4 vốn dành cho dân sau đại học. Còn mấy quán sát kí túc E2 là của hội sinh viên Y2, Y3. Mấy nơi này hay có trò đun nước sôi đặt phía dưới đĩa thức ăn, nhìn ngoài bốc hơi nghi ngút, gọi ăn mới thấy lạnh ngắc ngư. Dù sao vẫn khá hơn nhà ăn sinh viên – căngtin chính thức của trường – nơi thức ăn vừa nguội vừa đắt. Chỗ đấy là dành riêng cho mấy cô chú “Y muỗi” lơ ngơ mới nhập học.

Có thể đồ ăn ở quán Bà Béo nóng hơn, ngon hơn; hoặc đơn giản chỉ do thói quen, mà tụi tôi hầu như không mò vào các quán khác. Qui trình lấy cơm ở đây khá nhanh gọn. Chỉ cần cười chào bà Béo một câu, chỉ trỏ vài món ăn, bê lấy bát canh, và tất nhiên – giả tiền. Dân tình thường gọi khá nhiều thịt, cá, trứng; có lẽ do chưa quen đọc vẹt mấy guideline của WHO về phòng và điều trị bệnh tiểu đường, tăng huyết áp, suy thận… Lũ chúng tôi thì khác, nện vào rất nhiều rau củ quả (nhất là đậu cô-ve), và luôn cố gắng tuân thủ đúng ô vuông dinh dưỡng của cuốn “Bài giảng Nhi khoa”.

Đó là những ngày dài và căng thẳng, khi thời gian biểu được sắp xếp chi li đến từng … 15 phút. Giờ ăn trưa bỗng trở thành khoảng thời gian thư giãn hiếm hoi không bị đè nặng “mặc cảm tội lỗi”. Nghĩa là cậu Huy kủng bạn tôi có thể thoải mái kể chuyện mấy em Y bé quen trên giảng đường (Luna chẳng hạn), Minh béo có thể nói về em Chai-kô, người-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy. Còn tôi thừa thời gian để mỗi hôm thủng thẳng vài câu “Kiều” (chắc là rất được hâm mộ) “Ba năm trong cõi Sản khoa/ Những điều trông thấy mà kinh đến già/ Rằng ngày mùng 8 tháng 3/ Thuý Kiều đi khám Sản khoa lần đầu/ Lý do bụng dưới quặn đau/ Mà da niêm mạc có màu xanh xao…”. Mấy ông bạn khoái chí, hôm nào cũng lẩm nhẩm ngâm nga, chăm hơn học thi. Mà nhớ thêm 50 câu Kiều (lại là những câu hay) thì có hại gì, chí ít học bài “Chảy máu Sản khoa” cũng đỡ nhọc nhằn hơn một chút.

Tôi nhớ Điền “thăng”, ôn thi nội trú Chẩn đoán hình ảnh, có giao ước là mỗi hôm đi ăn cùng nhau thì tôi phải đọc cho cậu ta một “câu tủ” về chuyên ngành Ngoại-Sản. Tôi học Nội, chẳng biết đề cương ôn Ngoại có những mục nào, nhưng cứ phán bừa. Hôm thì “Thoát vị bẹn”, hôm lại “Thai chết lưu” hay “Vết thương mạch máu”. Cuối cùng đến hôm thi trúng được câu Giải phẫu “Vẽ thiết đồ ống bẹn” thì phải, còn lại chệch toàn phần. Không biết kết quả thi của Điền ra sao, đặc biệt thấy hơi hồi hộp. Mà nói vậy thôi, chứ thi Nội trú là việc quan trọng cả đời. Trừ những thằng cùng quẫn, đố đứa nào dám học tủ!

Tôi nhớ Huy kủng hay vừa ăn vừa kể chuyện (một cách hết sức có duyên) về những “va chạm nghề nghiệp” mà cậu ta từng gặp. Nói chung, buổi ăn trưa là một dịp hay để ôn lại quãng đời sinh viên học lâm sàng của mình, để nhớ về những buổi giao ban giảng đường C, về phòng mổ Việt Đức, hay kể lại câu chuyện một cô bé bị kim găm trong lớp mỡ dưới da dày quá các bác sĩ tìm không thấy, vv và vv… Chính từ những giờ phút nói cười thoải mái ấy, bao nhiêu giai thoại đã ra đời (chuyện về CIDS chẳng hạn). Những giai thoại trường Y tuyệt vời ở chỗ nó độc đáo và không dễ quên. Nó đi từ bệnh viện ra giảng đường, rồi vào quán nước, quán cơm. Nó lưu truyền trong các thế hệ sinh viên như một thứ “Tịch Tà kiếm phổ” mà lũ Y bé luôn thấy hấp dẫn và khao khát được thưởng thức.

Thế là một tuần đã trôi qua. Khi ta lỏng dây cương thì thời gian đi rất nhanh. Đã 1 tuần không đến quán ăn Bà Béo, cảm giác như mình không còn thuộc về những ngày ôn thi nội trú nữa. Quán ăn Bà Béo chắc vẫn đông, nhưng “giờ cao điểm” lúc 11h30 thì sẽ vắng hơn một chút. Chỉ 10 ngày nữa thôi, kết quả thi sẽ dán kín một góc tầng 3 nhà A1, không hiểu “bà Béo” có nằm trong số đám đông tò mò chạy lên xem điểm không nhỉ.

Tháng 1.2007